- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn N - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lường Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI NGUYÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2019/HS-ST Ngày 27/5/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trung Kiên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Thảo.
Bà Nguyễn Thị Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thịnh – Thư ký tòa án nhân dân
huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
thực hành quyền công tố tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Hoàng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 5 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh
Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2019/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2019/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:
Lường Văn N, sinh ngày 19 tháng 9 năm 1955.
Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Xóm PH, xã PT, huyện V, tỉnh Thái Nguyên;
nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 4/10; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Quốc B (đã chết) và bà Nguyễn Thị M sinh năm 1933; gia đình có 10 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; có vợ là Hạc Thị H, sinh năm 1957 và 03 người con, con lớn sinh năm 1979, con nhỏ sinh năm 1984; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 26/8/2011 bị Tòa án nhân dân huyện V tỉnh Thái Nguyên xử phạt 30 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/01/2019, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V tỉnh Thái Nguyên; có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Vũ Văn C – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm
trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thái Nguyên (có mặt).
- Người chứng kiến:
1. Nguyễn Đình H, sinh năm 1966 (vắng mặt).
2. Hà Thanh S, sinh năm 1958 (vắng mặt).
Cùng nơi cư trú: Xóm NK, xã PT, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Do là người nghiện ma túy nên khoảng 17 giờ ngày 14/01/2019 Lường Văn
N có đi nhờ xe mô tô của một người không quen biết từ nhà thuộc xóm PH, xã PT, huyện V, tỉnh Thái Nguyên đi xuống khu vực thị trấn ĐC, huyện V với mục đích mua Heroine. Khi đến khu vực đường rẽ vào xóm BL, thị trấn ĐC, N gặp một người đàn ông (nói tên là H) không biết rõ tên thật, địa chỉ cụ thể ở đâu. Qua giao dịch trao đổi N mua của người đàn ông này 04 (bốn) gói Heroine được gói bằng giấy màu trắng in chữ đen bọc trong mảnh túi nilon bên ngoài cuộn dây nịt cao su màu vàng với giá 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng), sau đó N cất giấu trong túi áo khoác đang mặc trên người với mục đích để sử dụng dần.
Đến 17 giờ 30 phút ngày 15/01/2019 N điều khiển xe mô tô có biển kiểm
soát 20D1 – 103.46 đi xuống thị trấn ĐC để mua thức ăn. Đến khu vực xóm NK, xã PT thì bị Tổ công tác Công an huyện V phối hợp với Công an xã PT kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Lường Văn N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ của N gồm có: Một túi nilon màu trắng buộc dây cao su
màu vàng bên trong có 04 gói giấy màu trắng bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng (được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1); tạm giữ chiếc xe mô tô có biển kiểm soát 20D1 – 103.46, 01 đăng ký xe mô tô, 01 giấy phép lái xe mô tô đều mang tên Lường Văn N.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã tiến hành khám xét khẩn cấp
đồ vật, nhà ở đối với Lường Văn N, kết quả khám xét không thu giữ gì thêm.
Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã tiến hành cân
xác định toàn bộ khối lượng và lấy mẫu vật gửi giám định chất bột màu trắng thu giữ của N được niêm phong trong phòng bì A1. Kết quả cân xác định trọng lượng như sau: Toàn bộ chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 có khối lượng 1,178 gam. Lấy toàn bộ 1,178 gam niêm phong vào phong bì ký hiệu T1 làm mẫu vật gửi giám định. Còn lại mảnh giấy màu trắng có in chữ màu đen, túi nilon, dây nịt cao su màu vàng vào phong bi niêm phong cũ niêm phong vào phong bì ký hiệu T2 để bảo quản theo quy định.
Tại bản Kết luận giám định số: 315/KL-PC09 ngày 22/01/2019 của Phòng
kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng trong mẫu T1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 1,178 gam
Tại bản Cáo trạng số 22/CT-VKSVN ngày 25/4/2019 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện V truy tố Lường Văn N về tội ‘‘Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại
phiên tòa phát biểu lời luận tội đối với bị cáo đã phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2
Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Lường Văn N từ 24 tháng tù giam đến 30 tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/01/2019.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định là 1,144 gam được niêm
phong trong phong bì ký hiệu T1; một phong bì ký hiệu T2 ngoài phong bì có ghi: Giấy gói, túi nilon màu trắng, (dây) nịt cao sau màu vàng, phong bi niêm phong cũ là vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ đã qua sử dụng có
Biển kiểm soát 20D1 – 103.46, số máy HC12E5765147, số khung 1218DY764983; 01 đăng ký xe mô tô, 01 giấy phép lái xe mô tô đều mang tên Lường Văn N đây là tài sản của bị cáo không dùng vào việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo.
Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét
khoản tiền án phí và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo cũng nhất trí với quan điểm đánh giá các tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo của kiểm sát viên, tuy nhiên về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo cần xem xét vì bị cáo sống ở vùng có kinh tế khó khăn, bị cáo có trình độ văn hóa thấp, còn hạn chế về sự hiểu biết pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt: Cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề
nghị là 24 tháng tù giam.
Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu
đỏ đã qua sử dụng có Biển kiểm soát 20D1 – 103.46, số máy HC12E5765147, số khung 1218DY764983; 01 đăng ký xe mô tô, 01 giấy phép lái xe mô tô đều mang tên Lường Văn N
Bị cáo, người bào chữa không có ý kiến tranh luận gì đối với luận tội của
Kiểm sát viên.
Bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình
phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về việc xem xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định
tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
Qua xem xét, nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
nhận định: Quá trình điều tra và truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Khởi tố, điều tra, thu thập chứng cứ, truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp. Vì vậy, các chứng cứ có trong hồ sơ đều được thu thập theo trình tự tố tụng và hợp pháp.
Về tội danh: Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai nhận của bị cáo tại
phiên tòa về việc bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng và bị bắt quả tang vào lúc 17 giờ 30 phút ngày 15/01/2019 tại khu vực xóm Nk, xã PT, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Lời khai của bị cáo là tự nguyện, khách quan, phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với Kết luận giám định số 315/KL-PC09 ngµy 22/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên và phù hợp với vật chứng đã thu giữ cùng với những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là Heroin với tổng khối lượng 1,178
gam nhằm mục đích sử dụng của Lường Văn N đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của
bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, khung hình phạt mà bị cáo phải chịu trách nhiệm thuộc trường hợp là tội phạm nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội. Việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý không chỉ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, trí lực của con người, mà từ ma tuý đã làm phát sinh nhiều tội phạm khác và là một trong những nguyên nhân làm lan truyền căn bệnh HIV/AIDS, là hiểm họa đối với mọi gia đình và xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và
hướng xử lý:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lường Văn N không phải chịu tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan Điều tra và tại
phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ngoài ra bố bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến thắng hạng ba nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, năm 2011 bị cáo đã bị xét xử về hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, tuy đã được xóa án tích, nhưng cho thấy bị cáo là người có nhân thân xấu. Xét nhân thân bị cáo, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Lường Văn N là đối tượng nghiện,
không có thu nhập ổn định, thực hiện hành vi phạm tội không mang tính chất vụ lợi, do đó Hội đồng xét xử thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình
sự, điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý như sau:
- Một phong bì niêm phong ký hiệu T1 ngoài phong bì ghi hoàn trả 1,144
gam mẫu T1 còn lại sau giám định đây là lượng ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành; một phong bì niêm phong ký hiệu T2 ngoài phong bì ghi: Giấy gói, túi nilon màu trắng, (dây) nịt cao su màu vàng, phong bì niêm phong cũ là vật chứng không có giá trị. Những vật chứng nêu trên cần tịch thu tiêu hủy.
- Một xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ đã qua sử dụng có Biển
kiểm soát 20D1 – 103.46, số máy HC12E5765147, số khung 1218DY764983; một giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 003409 cấp ngày 13/6/2016 của Công an huyện Võ Nhai cấp; một giấy phép lái xe số 5555-20A cấp ngày 02/01/1992 do Công an tỉnh Bắc Thái cấp tất cả đều mang tên Lường Văn N đây là tài sản hợp pháp của bị cáo, bị cáo không dùng vào việc phạm tội. Xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136
của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 6, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo Lường Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về các vấn đề khác: Trong vụ án này còn đối tượng bán ma túy cho N,
theo N khai có tên là H nhưng không biết cụ thể họ tên, địa chỉ ở đâu vì vậy không có căn cứ làm rõ để xử lý.
Cần áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự ra quyết định tạm giam bị
cáo Lường Văn N với thời hạn 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
Ngoài ra, cần áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự để tuyên
quyền kháng cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 38 Bộ luật hình sự.
+ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lường Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép
chất ma túy”.
+ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lường Văn N 24 (hai mươi tư) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (15/01/2019).
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự,
điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu và tiêu hủy:
+ Một phong bì niêm phong ký hiệu T1 ngoài phong bì ghi hoàn trả 1,144
gam mẫu T1 còn lại sau giám định đây là lượng ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành; một phong bì niêm phong ký hiệu T2 ngoài phong bì ghi: Giấy gói, túi nilon màu trắng, (dây) nịt cao su màu vàng, phong bị niêm phong cũ là vật chứng không có giá trị.
- Trả lại cho bị cáo: Một xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ đã qua
sử dụng có Biển kiểm soát 20D1 – 103.46, số máy HC12E5765147, số khung 1218DY764983; một giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 003409 cấp ngày 13/6/2016 của Công an huyện Võ Nhai cấp; một giấy phép lái xe số 5555-20A cấp ngày 02/01/1992 do Công an tỉnh Bắc Thái cấp tất cả đều mang tên Lường Văn N đây là tài sản hợp pháp của bị cáo.
Tất cả vật chứng nêu trên hiện đang được Chi cục thi hành án dân sự huyện
Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên tạm giữ theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07/5/2019.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự ra quyết định tạm giam bị cáo
Lường Văn N với thời hạn 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố
tụng hình sự; Điều 6, Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lường Văn Nhân phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên
án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - Viện kiểm sát ND tỉnh Thái Nguyên; - Trại tạm giam CA tỉnh Thái Nguyên; - Công an huyện V; - Viện kiểm sát huyện V; - Bị cáo; - UBND xã PT, huyện V, TN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trung Kiên |