vanban.org

Bản án 18/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La Tuyên án 19/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đào Minh C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Đào Minh C 07 (Bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tình từ ngày 04/12/2018. Không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ĐÀO MINH C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đào Minh C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TAND HUYỆN V H
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2019/HS-ST
Ngày 19 tháng 3 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V H, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Quang.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tam và bà Nguyễn Thị Lư.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Hồng Nghiêm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện VH, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệnVH tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện VH, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2019/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2019/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2019, đối với bị cáo:

Đào Minh C, sinh năm 1980, tại H H, Bắc Giang.

Nơi cư trú: Thôn H Đ, xã Q M, huyện H H, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đào Văn T(đã chết) và bà Trần Thị L; bị cáo có vợ đã ly hôn là Hoàng Thị K, chưa có con;

Tiền án: không;

Nhân thân:

+ Ngày 07/9/2007 Công an huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (đã nộp phạt).

+ Ngày 14/12/2011 UBND huyện H H, tỉnh Bắc Giang quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh (Chấp hành xong ngày 04/01/2013).

+ Ngày 12/9/2014 Cơ quan điều tra Công an huyện VH khởi tố về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 01/11/2018 Công an huyện VH ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự, đình chỉ điều tra bị can do có sự thay đổi chính sách, pháp luật, hành vi phạm tội của bị cáo không còn nguy hiểm cho xã hội.

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/12/2018 cho đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 30 phút, ngày 04/12/2018, tại bản L L, xã L L, huyện VH, tỉnh Sơn La. Tổ công tác công an huyện VH phát hiện bắt quả tang Đào Minh C tàng trữ trái phép chất ma túy do Lê Văn T, sinh năm 1978, địa chỉ Tiểu Khu S Đ 1, xã VH, huyện VH, Sơn La điều khiển xe máy nhãn hiệu Dream, BKS 38H9 – 7037 chở. Tang vật thu giữ trong người của bị cáo là 02 gói được bọc bằng nilon màu đen, bên trong đựng chất bột màu trắng, Đào Minh C khai nhận đó là Heroine và 01 túi nilon màu xanh bên trong đựng 06 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY, C khai là ma túy tổng hợp (Hồng Phiến). C khai nhận đã mua ma túy về sử dụng.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Do nghiện ma túy, ngày 04/12/2018 C điều khiển xe máy nhãn hiệu YAMAHA Jupiter, không nhớ Biển kiểm soát đi từ huyện Mộc Châu đến bản C C, xã L L, bán cho một người đàn ông tên là Mùa A Cvới giá 8.200.000 đồng. Sau đó C đến quán bán hàng tạp hóa ở bản C T trả nợ 2.300.000 đồng. Tại đây, C gặp một người tên là Lê Văn T (cũng nghiện ma túy, hiện đang chấp hành chữa bệnh bắt buộc) và thuê T chở vào bản C T sau đó tiếp tục chở C đến ngã 3 VH. T đồng ý, chở C vào nhà một người đàn ông dân tộc Mông, tên là B. C để T ngồi ở bếp, còn mình đi vào phòng khách của nhà B hỏi mua của B được 01 gói nilon màu trắng đựng Heroine và 01 gói nilon màu xanh đựng 08 viên Hồng Phiến với giá 5.800.000 đồng. C lấy 02 viên Hồng Phiến cùng B sử dụng hết hơn một viên, còn lại một nửa viên, C đem cho T sử dụng. Số ma túy còn lại C lấy nilon gói lại thành hai gói, cho vào bao cao su rồi ra bảo T chở về. T điều khiển xe máy đến địa phận bản L L thì bị phát hiện bắt quả tang. Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ vật chứng, tạm giữ của C 100.000 đồng và dẫn giải hai đối tượng về Cơ quan điều tra xử lý.

Cơ quan điều tra xác minh, Lê Văn T không biết và không có lỗi trong việc phạm tội của Đào Minh C. C và T đều thừa nhận, việc C mua và tàng trữ ma túy T không hề biết, không liên quan. Ngày 08/01/2019, Công an huyện VH đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính và đề nghị Chủ tịch UBND xã VH, huyện VH áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với Lê Văn T về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.

Cơ quan điều tra xác minh, không có đối tượng tên Mùa A C bản C Ch đã mua xe máy của Đào Minh C và không có đối tượng tên là B ở bản C T đã bán ma túy cho bị cáo, như bị cáo khai nhận.

Cùng ngày, Tại Cơ quan điều tra tiến hành cân tịnh số ma túy thu giữ của Đào Minh C, xác định được:

- Số chất bột màu trắng trong gói nilon thứ nhất có khối lượng 10,38 gam, trích 0,19 gam làm mẫu gửi giám định, ký kiệu C.

- Số chất bột màu trắng trong gói nilon thứ hai có khối lượng 1,71 gam, trích 0,08 gam làm mẫu gửi giám định, ký kiệu C2.

- 06 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 0,62 gam, lấy 03 viên khối lượng 0,31 gam làm mẫu giám định ký hiệu C4.

Kết luận giám định số 38/KLMT ngày 07/12/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận "Mẫu gửi giám định ký hiệu C, C2 là ma túy; Loại Heroine; Tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,27 gam; Mẫu gửi giám định ký hiệu C4 là ma túy; Loại Methamphetamine; Tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,31 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 12,09 gam, Loại Heroine và 0,62 gam, loại Methamphetamine”

Cáo trạng số 07/CT – VKS ngày 22/01/2019 của VKSND huyện VH, truy tố Đào Minh C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm n khoản 2 điều 249 BLHS. Tại phiên tòa, kiểm sát viên vẫn bảo vệ nội dung Cáo trạng truy tố bị cáo, đề nghị HĐXX xem xét: Tuyên bố Đào Minh C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy

* Áp dụng điểm n khoản 2 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt: Đào Minh C từ 07 đến 08 năm tù.

+ Không phạt bổ sung đối với bị cáo; áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu để tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 11,82 gam Heroine, 0,31 gam Methamphetamine và vỏ gói niêm phong ban đầu, 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Đào Minh C, 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Lê Văn T.

+ Trả lại bị cáo 100.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

+ Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã xử phạt vi phạm hành chính và đề nghị Chủ tịch UBND xã VH áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với Lê Văn T.

+ Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Do nghiện ma túy, Đào Minh C đã mua và tàng trữ 12,09 gam Heroine và 0,62 gam Methamphetamine, tổng cộng là 12,71 gam, với giá 5.800.000 đồng mục đích về sử dụng, thì bị phát hiện bắt giữ. Bị cáo tàng trữ 02 loại ma túy, căn cứ Điều 4, Nghị định 19/2018/NĐ – CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ thì: Tổng khối lượng của hai chất ma túy của Đào Minh C là 12,09 gam Heroine + 0,62 gam Methamphetamine = 12,71 gam. Hành vi của bị cáo đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm n khoản 2 điều 249 BLHS.

Tính chất hành vi của bị cáo: Bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý. HĐXX xét thấy, việc khởi tố, truy tố của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát được thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng, có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo nghiện ma túy, tàng trữ lượng ma túy tương đối lớn, nhân thân xấu, cần xử phạt tù nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo, để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, nên được xem xét cho hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS.

Về phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo nghiện ma tuý, không có khả năng thi hành, nên không áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 11,82 gam Heroine, 0,31 gam Methamphetamine và vỏ gói niêm phong ban đầu, 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Đào Minh C, 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Lê Văn T là những vật bị cấm lưu hành hoặc không có giá trị sử dụng, cần tuyên tịch thu để tiêu hủy.

Số tiền 100.000 đồng là tài sản của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội, cần tuyên trả lại cho bị cáo.

Về nguồn gốc chất ma túy: Người đàn ông tên B, dân tộc Mông, ở bản C C, xã L L đã bán ma túy cho bị cáo. Cơ quan điều tra xác minh không có người như đặc điểm như bị cáo khai nhận. Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

Đối với Lê Văn T, đã được bị cáo thuê chở bị cáo, nhưng không biết và không liên quan đến việc phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo. Cơ quan điều tra Công an huyện VH đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính và đề nghị Chủ tịch UBND xã VH, huyện VH áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với Lê Văn T về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ. Đối với người tên Mùa A C bản C C, xã L L đã mua xe máy của bị cáo, cơ quan điều tra xác minh không có ai tên là Mùa A Cnhư bị cáo khai nhận, cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, mở rộng điều tra.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm n khoản 2 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự 2015;

1. Tuyên bố bị cáo Đào Minh C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Đào Minh C 07 (Bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tình từ ngày 04/12/2018.

Không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Áp dụng các điểm c khoản 1 điều 47 BLHS, điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu để tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 11,82 gam Heroine, 0,31 gam Methamphetamine và vỏ gói niêm phong ban đầu, 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Đào Minh C, 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Lê Văn T.

+ Trả lại bị cáo số tiền 100.000 đồng.

Theo biên bản giao vật chứng số: 30/BBVC, và biên lai thu số 0000859 ngày 25 tháng 01 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện VH.

+ Chấp nhận việc Cơ quan điều tra Công an huyện VH đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính và đề nghị Chủ tịch UBND xã VH, huyện VH áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với Lê Văn T về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAT

- VKS tỉnh, huyện

- CA huyện, CQ THAHS

- THADS

- Sở TP

- Trại Giam

- Bị cáo

- Lưu HS.

Nguyễn Đăng Quang

- Lưu VP. HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA HỘI THẨM NHÂN DÂN

Nguyễn Thị Tam

Nguyễn Đăng Quang

Nguyễn Thị Lư

Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:

Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:

(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (huyện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).

(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).

(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.

(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán..., đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.

(6)ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).

(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.

(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).

(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.

(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.

(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thânghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp thì ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họ tên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự; nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.

(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.

(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].

(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.

(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:

Cỡ chữ