vanban.org

Bản án 18/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 10/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Diệp Chí T và Võ Thanh T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2019/HS-ST
Ngày: 10-4-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Thế Chính.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bồ Quốc Khánh.

Ông Nguyễn Văn Lợi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Bùi Xuân Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2019/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2019/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Diệp Chí T, sinh năm 1997 tại Bạc Liêu. Nơi cư trú: Ấp C, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Diệp Văn C và bà Nguyễn Thị Thu T1; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/12/2018 sau đó chuyển sang tạm giam cho đến nay; có mặt.

2. Võ Thanh T2, sinh năm 1991 tại Bạc Liêu. Nơi cư trú: Ấp C, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn L (Đã chết) và bà Nguyễn Thị L1; vợ tên Trần Chúc P, có 01 người con sinh năm 2018; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/12/2018 sau đó chuyển sang tạm giam cho đến nay; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Phương D, sinh năm 1965. Nơi cư trú: Số nhà 64, khu phố T(Số cũ: 156/1A, khu phố Đ), phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

Người làm chứng:

1. Ông Nguyễn Thành L2, sinh năm 1972. Nơi cư trú: Ấp 2, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; có đơn xin giải quyết vắng mặt.

2. Ông Nguyễn Trường A, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Ấp 1, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; có đơn xin giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Diệp Chí T và Võ Thanh T2 là bạn cùng quê và cùng làm công nhân. Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 21/12/2018, T, T2 cùng H, T3 (Chưa rõ nhân thân, lai lịch) đang làm việc chung tại công trình cấp thoát nước ở huyện Đ, tỉnh Bình Phước, khi T3 chuẩn bị về nhà thì H rủ T3 ở lại nhậu. T3 hỏi ở lại có gì vui không thì T nói đi mua ma túy đá về sử dụng nên T3 đồng ý. T3 đưa cho T số tiền 500.000 đồng đi mua ma túy, T nhận tiền và rủ T2 đi cùng. T mượn xe môtô biển số 61H3-0580 của H để đi mua ma túy thì H đồng ý. T điều khiển xe môtô chở T2 về thị xã D, tỉnh Bình Dương. Khi gần đến cầu vượt S, T và T2 ghé quán ngồi uống nước, gọi điện thoại hỏi mua ma túy nhưng không được. T2 gọi điện thoại cho N (Chưa rõ nhân thân, lai lịch) nhờ mua giùm 300.000 đồng ma túy thì N đồng ý. T2 chỉ đường cho T chạy đến phòng trọ của N (Không rõ địa chỉ cụ thể). T2 kêu T đưa cho N số tiền 300.000 đồng mua ma túy và N dùng điện thoại của T2 gọi cho D1 (Chưa rõ nhân thân, lai lịch) để mua 300.000 đồng ma túy. Sau nhiều lần gọi cho D1, T, T2, và N chạy đến phòng trọ của bạn D1 để lấy ma túy. Ba người đợi khoảng 5 phút thì có người thanh niên kêu quay về phòng trọ của N đợi. Một lúc sau, người thanh niên này đến, đưa cho N 01 túi nylon màu xanh có chứa chất tinh thể màu trắng bên trong và N đưa cho người thanh niên số tiền 300.000 đồng. N đưa bịch nylon có chứa ma túy cho T2 rồi T2 chuyển lại cho T cất giữ. Do thấy túi nylon chứa ma túy bị hở nên T lấy túi nylon vỏ gói thuốc đựng, hàn kín lại, cất vào túi áo khoác bên trái. T chở T2 đi về tỉnh Bình Phước. Khi đến xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương bị lực lượng tuần tra yêu cầu dừng lại kiểm tra. T2 khai nhận bịch nylon thu giữ được trong túi áo khoác của T2 là ma túy đá.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên đã thu giữ gồm: 01 túi nylon hàn kín miệng hở có dán băng keo màu xanh bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 Giấy chứng minh nhân dân mang tên Võ Thanh T2; 01 điện thoại di động Iphone màu trắng vàng; 01 xe môtô biển số 61H3-0580, số khung: C100MP3074081, số máy: 150FM3074081 và Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô biển số 61H3-0580 mang tên Nguyễn Phương D.

Ngày 22/12/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên đã trưng cầu Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương giám định khối lượng và loại chất thu giữ.

Tại Bản kết luận giám định số 63/MT-PC09 ngày 26/12/2018 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy có khối lượng: 0,2291gam (Methamphetamine).

Ngày 31/12/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và tạm giam Diệp Chí T và Võ Thanh T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại Cáo trạng số 21/CT-VKS-BTU ngày 26/3/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên truy tố Diệp Chí T và Võ Thanh T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Diệp Chí T từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù, xử phạt bị cáo Võ Thanh T2 từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tịch thu tiêu hủy 01 bìa thư đã được dán kín có ký hiệu 63/MT-PC09, bên trong chứa chất ma túy (Methamphetamine), trọng lượng sau giám định là 0,1433gam, các bị cáo sử dụng để phạm tội.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone màu trắng vàng (Không kiểm tra tình trạng bên trong) bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy.

Đối với 01 xe môtô biển số 61H3-0580, số khung: C100MP3074081, số máy: 150FM3074081 và Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô biển số 61H3-0580 mang tên Nguyễn Phương D. T và T2 mượn của H (Chưa rõ nhân thân, lai lịch). Bà Nguyễn Phương D là chủ sở hữu đã bán cho Q (Chưa rõ nhân thân, lai lịch). Do chưa làm việc được với H và Q, đề nghị tiếp tục giao Cơ quan điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên làm rõ, xử lý sau.

Đối tượng tên T3 đưa cho bị cáo T số tiền 500.000 đồng để mua ma túy, các bị cáo chỉ mua hết số tiền 300.000 đồng. Đề nghị buộc các bị cáo liên đới nộp lại số tiền 200.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

Các bị cáo thống nhất kết luận giám định, nội dung bản cáo trạng, không tranh luận và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Phương D và những người làm chứng gồm ông Nguyễn Thành L2, ông Nguyễn Trường A có đơn xin giải quyết vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt.

Về nội dung vụ án: Ngày 21/12/2018, các bị cáo Diệp Chí T và Võ Thanh T2 có hành vi mua ma túy về tàng trữ để sử dụng thì bị bắt quả tang. Các bị cáo có hành vi tàng trữ bất hợp pháp chất ma túy, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy. Tại Bản kết luận giám định số: 63/MT-PC09 ngày 26/12/2018 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy có khối lượng: 0,2291gam (Methamphetamine). Do đó, Cáo trạng số 21/CT-VKS-BTU ngày 26/3/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên truy tố các bị cáo Diệp Chí T và Võ Thanh T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, nguyên nhân làm các tội phạm khác nảy sinh, gây nguy hại cho sức khỏe của các bị cáo và có thể là những người khác trong xã hội. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Các bị cáo phạm tội nghiêm trọng, Hội đồng xét xử cần xử các bị cáo mức hình phạt thật nghiêm bằng hình phạt tù có thời hạn mới có tác dụng trừng trị, răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Vai trò của các bị cáo: Vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo là những người thực hành, bị cáo T là người rủ bị cáo T2 thực hiện hành vi phạm tội nên hình phạt sẽ cao hơn bị cáo T2.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Đối với 01 bìa thư đã được dán kín có ký hiệu 63/MT-PC09, bên trong chứa chất ma túy (Methamphetamine), trọng lượng sau giám định là 0,1433gam, các bị cáo sử dụng phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động Iphone màu trắng vàng (Không kiểm tra tình trạng bên trong), các bị cáo sử dụng liên lạc mua ma túy cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 xe môtô biển số 61H3-0580, số khung: C100MP3074081, số máy: 150FM3074081 và Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô biển số 61H3-0580 mang tên Nguyễn Phương D. T và T2 khai mượn của H (Chưa rõ nhân thân, lai lịch). Bà Nguyễn Phương D là chủ sở hữu đã bán cho người tên Q (Chưa rõ nhân thân, lai lịch). Do chưa làm việc được với H và Q cần tiếp tục giao Cơ quan điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên làm rõ, xử lý sau.

Đối tượng tên T3 đưa cho bị cáo T số tiền 500.000 đồng mua ma túy, các bị cáo mua hết số tiền 300.000 đồng. Do đó, cần buộc các bị cáo liên đới nộp lại số tiền 200.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về hình phạt đối với các bị cáo, xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Diệp Chí T và Võ Thanh T2.

Căn cứ vào Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh và hình phạt:

1.1. Về tội danh:

Tuyên bố các bị cáo Diệp Chí T và Võ Thanh T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1.2. Về hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Diệp Chí T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21 tháng 12 năm 2018.

- Xử phạt bị cáo Võ Thanh T2 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21 tháng 12 năm 2018.

2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

2.1. Vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Tân Uyên:

Tịch thu tiêu hủy: 01 bìa thư đã được dán kín có ký hiệu 63/MT-PC09, bên trong chứa chất ma túy (Methamphetamine), trọng lượng sau giám định là 0,1433gram.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone màu trắng vàng (Không kiểm tra tình trạng bên trong).

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/4/2019).

2.2. Giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên tạm giữ điều tra, xử lý sau: 01 xe môtô biển số 61H3-0580, số khung: C100MP3074081, số máy: 150FM3074081 và Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô biển số 61H3-0580 mang tên Nguyễn Phương D.

2.3. Buộc các bị cáo Diệp Chí T và Võ Thanh T2 liên đới nộp lại số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Diệp Chí T và Võ Thanh T2; mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ