vanban.org

Bản án 18/2019/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Cần Thơ Tuyên án 05/03/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/03/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: điểm c, đ khoản 2, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51; điểm p khoản 1 Điều 52; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xử phạt: Lê Thái C 06 năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 09/7/2018. Phạt bổ sung: cấm bị cáo hành nghề lái xe ô tô tải, máy kéo kéo rơ mooc có trọng tải từ 3.500 kg trở lên là 03 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thái C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: điểm c, đ khoản 2, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51; điểm p khoản 1 Điều 52; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2019/HS-PT
Ngày: 05-3-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thụy Vũ.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hoàng Quí.

Ông Nguyễn Văn Trinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tống Phi Phụng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông La Quốc Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 11/2019/TLPT-HS ngày 07 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo Lê Thái C do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 80/2018/HS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng.

- Bị cáo có kháng cáo:

LÊ THÁI C, sinh năm 1990 tại M, An Giang.

Nơi cư trú: ấp P, xã B, huyện M, tỉnh An Giang.

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: công giáo;

Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: lái xe.

Cha: Lê Văn A, Mẹ: Lê Kim C1;

Vợ: Hà Thị Kim L. Có 02 con sinh năm 2014 và 2016.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo đang bị tạm giữ từ ngày 09/7/2018 và tạm giam đến nay. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo:

Luật sư Phạm Văn L1 - Đoàn Luật sư thành phố Cần Thơ.

Đại diện hợp pháp của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có kháng cáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 10 phút ngày 09/7/2018, Lê Thái C điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 67C – 01782 cùng với phụ xe Nguyễn Chí L1 lưu thông trên cầu Cần Thơ hướng từ tỉnh Vĩnh Long về thành phố Cần Thơ. Khi đổ dốc đến đoạn thuộc khu vực X, phường H1, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ – ngang công trình thi công sửa mặt cầu thì phần đầu xe phía trước bên phải do C điều khiển va chạm vào đuôi xe mô tô biển kiểm soát 66C1 – 27798 do chị Đỗ Thị Trúc P1 điều khiển chở theo 02 con là Nguyễn Bảo Q và Nguyễn Trung H, hậu quả chị Đỗ Thị Trúc P1 và cháu Nguyễn Bảo Q tử vong tại chỗ, cháu Nguyễn Trung H bị thương được người dân đưa vào bệnh viện cấp cứu và điều trị. Biết đã gây tai nạn, Lê Thái C tiếp tục điều khiển xe bỏ chạy, khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày khi đến đoạn đường Đ, phường S, thành phố M1, tỉnh Cà Mau thì bị lực lượng Công an tỉnh Cà Mau yêu cầu dừng xe, mời về trụ sở làm việc và bàn giao cho cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ để xử lý theo quy định.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô biển kiểm soát 66C1 – 27798, 01 xe ô tô tải biển kiểm soát 67C – 01782, 01 xe mô tô biển kiểm soát 65C – 09392, 01 giấy phép lái xe hạng A2-C mang tên Lê Thái C, 01 mảnh nhựa màu xanh kích thước 2cm x 4cm thu trên cản trước xe ô tô tải biển kiểm soát 67C – 01782.

Lê Thái C khai nhận: bản thân lái xe thuê cho chủ xe ô tô tải biển kiểm soát 67C – 01782 là bà Trần Thị Kim C2. Vào sáng ngày 09/7/2018, C điều khiển xe cùng với phụ xe Nguyễn Chí L1 từ thành phố S1, tỉnh Đồng Tháp đến huyện N tỉnh Cà Mau để giao hàng. Khoảng 10 giờ 10 phút cùng ngày khi đổ dốc cầu Cần Thơ C cho xe chuyển hướng từ làn đường sát dãy phân cách vào làn giữa để vượt xe đầu kéo phía trước, khi chuyển vào làn giữa thì phía trước có công trình đang thi công sửa chữa ở làn đường ngoài cùng sát thành cầu, có người đứng cảnh giới, phân luồng và hướng dẫn xe lưu thông ở làn đường này di chuyển vào làn đường giữa. Lê Thái C tiếp tục cho xe di chuyển với tốc độ khoảng 60km/h đến 70km/h khi đến đoạn ngang công trình thì phần đầu xe bên phải va chạm vào một xe máy lưu thông cùng chiều làm xe này văng về phía trước, C cảm nhận bánh xe bị tung lên. Sau đó, C cho xe dừng lại cách vị trí xảy ra tai nạn khoảng 30 mét và cùng L1 bước xuống xe nhìn về phía sau thì thấy có hai người nằm bất động trên đường. Biết vừa gây tai nạn nên C kêu L1 lên xe bỏ chạy về hướng Cà Mau, dọc đường C cho xe dừng lại và dùng bùn đất bôi lên thùng xe để xóa vết máu dính trên thùng xe, sau đó tiếp tục điều khiển xe đến đường Đ, phường S, thành phố M1 thì bị lực lượng Công an tỉnh Cà Mau chặn xe mời về trụ sở làm việc.

Tại Kết luận giám định số 140 và 141/KLGĐ-PC54 ngày 16/7/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ kết luận: nạn nhân Nguyễn Bảo Q và Đỗ Thị Trúc P1 tử vong do dập não, sau vỡ xương sọ.

Kết luận giám định số 655/KL-PC09 ngày 09/11/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ kết luận: mẫu giám định (sơn màu xanh thu tại hiện trường) và mẫu so sánh (sơn màu xanh thu trên xe ô tô tải biển kiểm soát 67C – 017.82) có thành phần hóa học đồng nhất.

Đối với cháu Nguyễn Trung H chỉ bị thương nhẹ ngoài da, gia đình không yêu cầu giám định tỷ lệ thương tích nên Cơ quan điều tra không tiến hành trưng cầu giám định thương tật của H.

Xe ô tô tải biển kiểm soát 67C – 017.82 do Trần Thị Kim C2 là chủ sở hữu, vào thời điểm ngày 09/7/2018 đã hết thời hạn kiểm định 02 ngày. Tuy nhiên giữa bà C2 và Lê Thái C đã có thỏa thuận giao xe cho C quản lý, sử dụng và chịu trách nhiệm đưa xe đi kiểm định khi đến hạn nên chưa đủ cơ sở để xử lý đối với bà C2.

Xe ô tô biển kiểm soát 65C – 09392 qua điều tra xác định là tài sản của công ty E không liên quan đến vụ án.

Xe mô tô biển kiểm soát 66C1 – 27798 thuộc sở hữu của Nguyễn Thành Phước, lúc Đỗ Thị Trúc P1 là vợ của P2 tự ý lấy xe điều khiển về quê ở Sóc Trăng và gặp nạn anh P2 không hay biết.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Cái Răng đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại các xe trên cho chủ sở hữu.

Về trách nhiệm dân sự, Lê Thái C và Trần Thị Kim C2 đã thỏa thuận bồi thường xong cho gia đình nạn nhân 250.000.000 đồng, gia đình nạn nhân không có yêu cầu gì thêm.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 80/2018/HSST ngày 28 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng đã áp dụng điểm c, đ khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51, điểm p khoản 1 Điều 52, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; xử phạt Lê Thái C 06 năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 09/7/2018. Phạt bổ sung: cấm bị cáo hành nghề lái xe ô tô tải, máy kéo kéo rơ mooc có trọng tải từ 3.500 kg trở lên là 03 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng và án phí trong vụ án.

Sau khi tuyên án sơ thẩm, ngày 04/12/2018, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt để phụ tiếp gia đình và lo cho 02 con còn nhỏ.

Tại phiên tòa, bị cáo trình bày giữ nguyên kháng cáo nhưng cho rằng bị hại đã đột ngột chuyển làn đường vào giữa để tránh công trình đang thi công làm cho bị cáo không xử lý kịp; hiện trường công trình thi công không có biển báo và cũng không có người hướng dẫn phân luồng giao thông nên yêu cầu trích xuất các camera quanh khu vực xảy ra tai nạn để xem xét cho bị cáo. Bị cáo xác định quá trình điều tra không bị ép cung, nhục hình, bị cáo có Luật sư chứng kiến trong một số buổi hỏi cung nhưng không trình bày về việc bị hại đột ngột chuyển hướng như vừa khai nại.

Luật sư bào chữa cho bị cáo nêu các tình tiết giảm nhẹ như bị cáo đã khắc phục hậu quả, chưa tiền án tiền sự, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, hai con còn nhỏ, sau khi xét xử sơ thẩm gia đình bị cáo đã tự nguyện khắc phục thêm 50.000.000 đồng và nhận chu cấp cho con của bị hại mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi cháu bé tròn 18 tuổi nên được gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, những tình tiết này chưa được án sơ thẩm xem xét. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Kiểm sát viên đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên án sơ thẩm do quá trình tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã tuân thủ đúng quy định, các chứng cứ được thu thập hợp pháp đủ cơ sở để quy kết về hành vi phạm tội của bị cáo như án sơ thẩm đã nêu. Xét các lời khai của những người tham gia tố tụng đều phù hợp với nhau, phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản kiểm tra dấu vết trên phương tiện và các kết luận giám định. Biên bản khám nghiệm hiện trường (BL 112) xác định hiện trường vụ tai nạn xảy ra trên cầu Cần Thơ đoạn cuối dốc cầu thuộc khu vực X, phường H1, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ, nơi xảy ra tai nạn thuộc đường một chiều hướng Vĩnh Long về Cần Thơ mặt đường trên cầu rộng 11 mét có 03 làn đường, vị trí xảy ra tai nạn một phần mặt đường đang thi công sửa chữa có bảng báo hiệu; xe mô tô biển kiểm soát 66C1 – 27798 do bị hại điều khiển đổ về bên phải xe, trục bánh trước xe cách mép đường bên phải 01 mét, trục sau cách mép đường bên phải là 0,40 mét cho thấy việc bị cáo khai nại tại phiên tòa hôm nay là không có căn cứ.

Đối với các lý do kháng cáo bị cáo nêu trong đơn và trình bày tại phiên tòa không có căn cứ để xem xét vì đều là những tình tiết đã được ghi nhận trong bản án sơ thẩm.

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo không sai, yêu cầu trích xuất camera để xem xét và minh oan cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: cấp sơ thẩm đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đối với bị cáo, đảm bảo quyền và nghĩa vụ tố tụng của những người tham gia tố tụng.

Xét nội dung kháng cáo:

Căn cứ vào các chứng cứ đã được thu thập hợp pháp đủ cơ sở để kết luận bị cáo đã điều khiển xe ô tô nhưng không giữ khoảng cách an toàn, không giảm tốc độ khi qua nơi có công trình đang thi công, kém quan sát nên đã gây va chạm với xe mô tô đang lưu thông cùng chiều làm hai người tử vong. Khi phát hiện tai nạn, bị cáo không cứu giúp nạn nhân mà bỏ chạy và còn có hành vi xóa bỏ dấu vết trên phương tiện để tránh bị phát hiện. Truy tố và xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm c và đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là đúng tội.

Đối với nội dung kháng cáo và ý kiến đề xuất của Kiểm sát viên nhận thấy hành vi của bị cáo đã gây ra hậu quả rất nghiêm trọng, án sơ thẩm đã đánh gia đúng tính chất nguy hiểm của hành vi và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo, có áp dụng tình tiết tăng nặng “có hành động xảo quyệt nhằm che giấu tội phạm” nên hình phạt đã tuyên là tương xứng. Các lý do kháng cáo bị cáo đã nêu và trình bày của Luật sư không phải là tình tiết giảm nhẹ mới so với giai đoạn xét xử sơ thẩm vì thực chất việc bồi thường chủ yếu là do bà Trần Thị Kim C2 là chủ xe hỗ trợ, gia đình bị cáo có hỗ trợ thêm 50.000.000 đồng cho đại diện bị hại là sự tự nguyện ngoài phán quyết của án sơ thẩm và đã thực hiện xong nên không đề cập đến. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo phủ nhận tội lỗi và không nhìn nhận sai phạm nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo. Đối với bị cáo cần có thời gian dài cách ly ngoài xã hội để giáo dục ý thức và cần giữ nguyên hình phạt bổ sung để đảm bảo tính răn đe. Do vậy, Hội đồng xét xử vẫn giữ nguyên án sơ thẩm như đề nghị của Kiểm sát viên.

Án sơ thẩm áp dụng hình phạt bổ sung nhưng không ghi điều luật là thiếu sót, Hội đồng xét xử có bổ sung phần này và cần nêu để rút kinh nghiệm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.

Áp dụng: điểm c, đ khoản 2, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51; điểm p khoản 1 Điều 52; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xử phạt: Lê Thái C 06 năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 09/7/2018.

Phạt bổ sung: cấm bị cáo hành nghề lái xe ô tô tải, máy kéo kéo rơ mooc có trọng tải từ 3.500 kg trở lên là 03 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ