vanban.org

Bản án 18/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 12/03/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/03/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tăng Văn L. Giữ nguyên bản

án hình sự sơ thẩm số 145/2018/HS-ST ngày 20 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố PT Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tăng Văn L mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tăng Văn L. Giữ nguyên bản
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 356 Bộ luật tố t ng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2019/HS-PT
Ngày: 12-3-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lộc

Các Thẩm phán: Ông Bích Văn Nhiên, bà Lê Thị Thanh Thái

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Trọng Kha - Là Thư ký Toà án của Tòa án

nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Hoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2019, t i tr s Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận,

xét xử phúc thẩm công khai v án hình sự phúc thẩm th lý số 101/2018/TLPT-

HS ngày 27 tháng 12 năm 2018, đối với bị cáo Tăng Văn L do có kháng cáo của

bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 145/2018/HS-ST ngày 20 tháng 11 năm

2018 của Tòa án nhân dân thành phố PT theo quyết định đưa v án ra xét xử số

09/2019/QĐXXPT-HS ngày 26/02/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận

- Bị cáo có kháng cáo:

Tăng Văn L (Tên gọi khác: Ba Q), sinh ngày: 01/6/1988 t i Bình Thuận.

Nơi cư trú: Khu phố 1, phường MN, thành phố PT, tỉnh Bình Thuận; chỗ : khu

phố 4, phường HT, thành phố PT, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Thợ sửa xe

máy; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam;

tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tăng Văn L và bà Phan Thị H;

tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 24/9/2008, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố PT xử

ph t 20 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (theo Bản án số 135/HSST).

Ngày 01/9/2009, được đặc xá, tr về địa phương (theo Giấy chứng nhận đặc xá

số 386/GCNĐX ngày 01/9/2009). Ngày 08/4/2009, Tăng Văn L đã chấp hành

xong việc nộp án phí 50.000 đồng theo Quyết định thi hành án số 525/THA

ngày 07/4/2009 của Chi c c Thi hành án dân sự thành phố PT. Đã được xóa án

tích.

Bị cáo bị Đồn Biên phòng phường Mũi Né lập biên bản bắt người ph m

tội quả tang ngày 16/5/2018, hiện đang bị t m giam t i Nhà t m giữ - Công an

TP. Phan Thiết. Bị cáo có mặt t i phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung

v án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ trưa ngày 16/5/2018, do có nhu cầu sử d ng ma túy đá nên

Lê Văn Tiến (sinh năm 1988, trú t i khu phố 4, phường HT, TP. PT) nhờ một người b n (không rõ nhân thân) điều khiển xe máy (không xác định được biển số) ch Tiến đến tiệm sửa xe của Tăng Văn L để mua ma túy về sử d ng. Khi Tiến và người b n đến tiệm sửa xe của L, Tiến nói với người b n: “Có đi đâu thì đi, lát sau quay lại đón tao”. Khi người này điều khiển xe đi khỏi thì Tiến đi vào tiệm gặp L nói là muốn mua 01 tép ma túy đá về sử d ng rồi đưa cho L 200.000 đồng (gồm 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng và 02 tờ mệnh giá 50.000 đồng). L nhận tiền, đi vào bên trong tiệm sửa xe. Ít phút sau, L quay tr ra và đưa cho Tiến 01 tép ma túy đá. Ngay khi Tiến cất tép ma túy đá vừa mua vào túi quần thì bị lực lượng phòng chống ma túy và tội ph m Đồn Biên phòng Mũi Né bắt quả tang và thu giữ tang vật gồm:

Thu giữ trong túi quần bên trái, phía sau của Lê Văn Tiến: 01 đo n nylon

màu trắng được hàn kín hai đầu, bên trong chứa tinh thể màu trắng d ng rắn (là ma túy mà L vừa bán cho Tiến). Thu giữ trên người của Tăng Văn L:

- Tiền Việt Nam: 1.200.000 đồng, gồm: 05 tờ tiền mệnh giá 200.000

đồng; 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng và 02 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng (Lkhai nhận: số tiền 200.000 đồng gồm 01 tờ mệnh giá 100.000 đồng và 02 tờ mệnh giá 50.000 đồng là tiền L vừa bán ma túy cho Tiến có được).

- 01 điện tho i di động hiệu Iphone 6S plus, số IMEI: 35328407 5723927;

số seri: C37QK2M2GRWQ.

- 01 điện tho i di động hiệu Mastel, số EMEI lần lượt là

911416455646741 và 911416455646758. (Bút l c số 45-53)

Lúc 16 giờ 15 phút ngày 16/5/2018, Đồn biên phòng Mũi Né tiến hành

khám xét khẩn cấp nơi của Tăng Văn L t i Tiệm sửa xe gắn máy Ba Q thuộc khu phố 4, phường HT, TP.PT, thu giữ các vật chứng gồm:

- 03 (ba) gói nylon màu trắng, bên trong chứa tinh thể màu trắng (d ng

rắn); 02 (hai) cân tiểu ly điện tử; 01 (một) túi nylon chứa nhiều đo n ống nhựa dùng để uống nước.

T i Kết Lgiám định số 454/KLGĐ-PC54 ngày 22/5/2018 của Phòng kỹ

thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận, kết L:

Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 0,0895 gam, là Methamphetamine.

Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 12,9285 gam, là

Methamphetamine.

Quá trình làm việc, Tăng Văn L và Lê Văn Tiến thừa nhận thực hiện hành

vi ph m tội như trên.

Về nguồn gốc ma túy Ltàng trữ và bán cho Tiến: L khai thông qua sự giới

thiệu của một đối tượng tên thường gọi là Hà Bắc (không rõ nhân thân), ngày 14/5/2018, L đã đến khu Văn Thánh thuộc phường PT, TP.PT, gặp một đối

tượng (không rõ nhân thân) và mua một lượng ma túy đá với giá 6.000.000

đồng, với m c đích tàng trữ để sử d ng và bán cho các con nghiện khác để kiếm

lời. Ngoài lần bán ma túy cho Tiến và bị bắt quả tang như trên, L chưa bán cho

người nào khác.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 145/2018/HS-ST ngày 20 tháng 11 năm

2018 của Tòa án nhân dân thành phố PT đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1

Điều 51, Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017

Tuyên bố: Bị cáo Tăng Văn L ph m tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

theo quy định t i khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ

sung năm 2017) và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định t i điểm g

khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử ph t: Bị cáo Tăng Văn L 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép

chất ma túy” và 06 (sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng

hợp hình ph t chung buộc bị cáo phải chấp hành cho cả hai tội là 08 (tám) năm

tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày bị bắt là ngày 16/5/2018.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên các quyết định khác về biện

pháp tư pháp, án phí và thông báo quyền kháng cáo cho những người tham gia

tố t ng biết.

Ngày 03 tháng 12 năm 2018, bị cáo Tăng Văn L kháng cáo cho rằng Viện

kiểm sát buộc tội bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là không đúng

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xử ph t bị

cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là không đúng. Đối với tội “Mua bán

trái phép chất ma túy” Tòa án cấp sơ thẩm buộc tội cho bị cáo là đúng không

oan.

- Ý kiến của đ i diện Viện kiểm sát: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm

áp d ng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố t ng hình sự năm 2015;

xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm vì kháng

cáo không có căn cứ chấp nhận.

- Lời nói sau cùng của bị cáo Tăng Văn L: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ

hình ph t cho bị cáo, xử bị cáo 02 tội là quá nặng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được

tranh t ng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

T i phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Tăng Văn L thừa nhận Tòa

án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng

không oan và xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là không đúng.

Đồng thời, bị cáo Tăng Văn L kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t.

Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Vào

lúc 12 giờ 30 phút trưa ngày 16/5/2018, t i tiệm sửa xe Ba Q thuộc khu phố 4, phường HT, TP.PT, bị cáo Tăng Văn L có hành vi bán cho Lê Văn Tiến 0,0895 gam Methamphetamine, thu lợi bất chính 200.000 đồng thì bị lực lượng phòng chống ma túy và tội ph m Đồn Biên phòng Mũi Né bắt quả tang. Ngoài ra, qua khám xét khẩn cấp nơi của Tăng Văn L t i tiệm sửa xe Ba Q thuộc khu phố 4, phường Hàm Tiến, thành phố Phan Thiết thu giữ 03 gói nylon màu trắng, bên trong chứa tinh thể màu trắng d ng rắn, theo kết L giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận thì 03 gói nylon này có khối lượng 12,9285 gam là Methamphetamine.

Với hành vi nêu trên, bị cáo Tăng Văn L thừa nhận: Tòa án cấp sơ thẩm

xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định t i khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật, không oan.

Đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo cho rằng: Bị cáo

không ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên, t i phiên tòa hôm nay bị cáo thừa nhận: Bị cáo có mua 6.000.000 đồng ma túy để sử d ng, nếu ai mua thì bị cáo bán và bị cáo mới bán 01 gói cho Lê Văn Tiến thì bị bắt quả tang. Lời khai nhận này của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo t i Cơ quan điều tra, t i phiên tòa sơ thẩm. Mặt khác, theo biên bản khám xét nơi t i tiệm sửa xe của bị cáo thể hiện: Cơ quan chức năng đã thu giữ 03 gói nylon có chứa tinh thể màu trắng d ng rắn. Phòng Kỹ thuận hình sự Công an tỉnh Bình Thuận, kết L03 gói nylon này có khối lượng 12,9285 gam Methamphetamine. Hành vi này của bị cáo đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, là không oan. Vì thế, kháng cáo của bị cáo cho rằng bị cáo không ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là không có căn cứ để chấp nhận.

T i phiên tòa hôm nay, lời nói sau cùng của bị cáo là bị cáo xin Hội

đồng xét xử giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo vì Tòa án cấp sơ thẩm xử ph t bị cáo 02 tội với mức án 08 năm tù là quá nặng. Hội đồng xét xử thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi ph m tội cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hư ng, đã xử ph t bị cáo Tăng Văn L 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình ph t của hai tội danh nêu trên là 08 năm tù, mức hình ph t này là thỏa đáng, không nặng. T i phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cũng không có tình tiết giảm nhẹ nào khác ngoài những tình tiết giảm nhẹ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp d ng. Do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Bị cáo Tăng Văn L phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định

của pháp luật

Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, không bị kháng cáo,

kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố t ng hình sự

năm 2015.

QUYẾT ĐỊNH:

1) Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tăng Văn L. Giữ nguyên bản

án hình sự sơ thẩm số 145/2018/HS-ST ngày 20 tháng 11 năm 2018 của Tòa án

nhân dân thành phố PT

Áp d ng khoản 1 Điều 251; điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1

Điều 51, Điều 55 Bộ luật hình sự

Tuyên bố: Tăng Văn L ph m tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo

quy định t i khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma

túy” theo quy định t i điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Xử ph t: Tăng Văn L 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma

túy” và 06 (sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình

ph t chung buộc bị cáo phải chấp hành cho cả hai tội là 08 (tám) năm tù. Thời

h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày bị bắt là ngày 16/5/2018.

2) Về án phí: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy

định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa

án.

Bị cáo Tăng Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3) Các quyết định khác của bản án sơ thẩm số 145/2018/HS-ST ngày 20

tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố PT không có kháng cáo,

không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời h n

kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (12/3/2019).

Cỡ chữ