vanban.org

Bản án 18/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Tăng Thị Phì R được ly hôn với anh Tô T.

Về quyền nuôi con chung: Giao cho chị Tăng Thị Phì R trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Tô Thị Mỹ H (Nữ), sinh ngày 01/01/2011. Trong thời gian chị R nuôi con, không ai được quyền ngăn cản sự thăm nom, chăm sóc và giáo dục của cha mẹ đối với con chung. Ghi nhận ý chí tự nguyện của chị R, anh Tô … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ Tăng Thị Phì R - BĐ Tô T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Tăng Thị Phì R được ly hôn với anh Tô T.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ VĨNH CHÂU
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2019/HNGĐ-ST
Ngày 26/4/2019
Về "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Đức Chương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Triệu Khánh Long;

2. Ông Thái Trung Nghĩa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Đô, là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệp - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 279/2018/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2018 về "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2019/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2019 và Thông báo về việc dời phiên tòa số 02/2019/TB-TA ngày 16 tháng 4 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Tăng Thị Phì R, sinh năm 1991 (Có mặt); địa chỉ: Số nhà 147 khóm X, Phường Y, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

2. Bị đơn: Anh Tô T, sinh năm 1989 (Vắng mặt); địa chỉ: Số nhà 35 ấp Đ, xã V, thị xã C, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện ngày 12/10/2018 (BL 01) cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là chị Tăng Thị Phì R trình bày:

Năm 2010, chị Tăng Thị Phì R kết hôn với anh Tô T và được Ủy ban nhân dân Phường Y, thị xã V cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 20/5/2013. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị R sống chung tại số nhà 35 ấp Đ, xã V, thị xã C, tỉnh Sóc Trăng.

Cuộc sống chung hạnh phúc được thời gian đầu, chị R với anh T đã có 01 con chung là cháu Tô Thị Mỹ H (Nữ), sinh ngày 01/01/2011. Do bất đồng quan điểm làm phát sinh mâu thuẫn, sống chung không hòa hợp, thường xảy ra bất hòa nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng nghiêm trọng, không còn hạnh phúc nữa. Từ năm 2015, chị R đã cùng với cháu H trở về sinh sống tại số nhà 147 khóm X, Phường Y, thị xã V và vợ chồng không còn liên lạc với nhau. Nay, chị Tăng Thị Phì R yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Tô T.

Về con chung: Do cháu Tô Thị Mỹ H có nguyện vọng được sống cùng mẹ, chị R là công nhân làm việc trong doanh nghiệp, thu nhập ổn định trên 07 triệu đồng/tháng đảm bảo cuộc sống nên yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu H, không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Chứng cứ do chị R giao nộp gồm: Bản sao Giấy chứng minh nhân dân, Sổ hộ khẩu; Giấy chứng nhận kết hôn của anh T với chị R; bản sao Giấy khai sinh của cháu Tô Thị Mỹ H (BL 02 - 08).

- Đối với bị đơn Tô T: Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo đã thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của chị R nhưng anh T không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến của mình. Anh T còn vắng mặt không có lý do trong các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp nêu trên cũng như việc thu thập được tài liệu, chứng cứ cho anh T và đưa vụ án ra xét xử. Phiên tòa ngày 01/4/2019, bị đơn T vẫn vắng mặt và không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa, tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

- Tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được là: Biên bản xác minh về nơi cư trú, việc giao nhận văn bản tố tụng của bị đơn; tình trạng hôn nhân, nguyên nhân phát sinh tranh chấp, nguyện vọng và điều kiện của các đương sự cũng như tình trạng phát triển của cháu Tô Thị Mỹ H (BL 24, 28, 29).

- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định chính xác quan hệ pháp luật tranh chấp; thu thập chứng cứ đầy đủ, đúng pháp luật; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, đương sự đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị R, cho chị R ly hôn với anh T; giao cho chị R được nuôi dưỡng cháu H, anh T không phải cấp dưỡng cho con; không xem xét, giải quyết về tài sản và nợ chung do không có yêu cầu; quyết định nghĩa vụ chịu án phí đối với các đương sự, theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Chị Tăng Thị Phì R khởi kiện, yêu cầu ly hôn với anh Tô T và giải quyết quyền nuôi con chung. Yêu cầu này của chị R được pháp luật điều chỉnh tại các Điều 51, Điều 56 và Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 (Sau đây gọi là Luật hôn nhân và gia đình); thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh Tô T đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn và Kiểm sát viên yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật; Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bị đơn Tô T.

Về nội dung giải quyết:

- Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn và bản sao Giấy chứng minh nhân dân, Sổ hộ khẩu, Giấy khai sinh của cháu H cũng như việc không phản đối của anh T và kết quả xác minh của Tòa án; đối chiếu với quy định tại điểm c Khoản 1, Khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử khẳng định lời trình bày của chị Tăng Thị Phì R về việc kết hôn với anh Tô T, được Ủy ban nhân dân Phường Y, thị xã V cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 20/5/2013 và vợ chồng đã có 01 con chung là sự thật. Vì vậy, giữa chị R và anh T đang tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp quy định tại Khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, dù không có thỏa thuận khác và cũng không vì yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội; chỉ vì bất đồng quan điểm mà chị R và anh T phát sinh mâu thuẫn, thường xảy ra bất hòa nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng nghiêm trọng dẫn đến không còn sống chung với nhau từ hơn 04 năm nay, mạnh ai nấy sống, người nào chỉ biết bổn phận của người đó, cắt đứt liên lạc với nhau.

Như vậy, cùng với việc không phản đối yêu cầu ly hôn của chị R đã chứng tỏ anh T không có nguyện vọng đoàn tụ; vợ chồng không tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình nên chị R với anh T đã không còn tình nghĩa vợ chồng quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, có cơ sở kết luận quan hệ hôn nhân của các đương sự đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị R ly hôn với anh Tô T.

- Tại thời điểm xét xử vụ án, cháu Tô Thị Mỹ H đã trên 07 tuổi, được học tập ổn định; Ủy ban nhân dân Phường Y khẳng định cháu H phát triển bình thường về thể chất cũng như trí tuệ, chính quyền địa phương không nhận được bất cứ yêu cầu nào liên quan đến việc hỗ trợ, bảo vệ, chăm sóc cháu H (BL 24); đồng thời, cháu H có nguyện vọng được sống với mẹ, chị R yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con. Xét, việc bày tỏ ý chí của cháu H là hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối hay ép buộc; chị R có thu nhập ổn định, đảm bảo cuộc sống và có điều kiện chăm sóc, giúp đỡ cháu H phát triển phù hợp hơn theo giới tính. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt được tốt hơn và tránh sự xáo trộn nề nếp sinh hoạt, môi trường sống, học tập của cháu H thì cần căn cứ Điều 58, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình để giao cho chị R tiếp tục nuôi dưỡng con chung; đồng thời, ghi nhận ý chí tự nguyện của chị R về việc không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con.

- Nguyên đơn R tiếp tục khẳng định không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Chị R phải chịu 300.000 đồng theo điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV, Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn như đã nhận định ở trên, Hội đồng xét xử cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đã nêu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 1 và Khoản 2 Điều 143, Khoản 3 Điều 144, Khoản 4 Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Tăng Thị Phì R được ly hôn với anh Tô T.

2. Về quyền nuôi con chung: Giao cho chị Tăng Thị Phì R trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Tô Thị Mỹ H (Nữ), sinh ngày 01/01/2011.

Trong thời gian chị R nuôi con, không ai được quyền ngăn cản sự thăm nom, chăm sóc và giáo dục của cha mẹ đối với con chung. Ghi nhận ý chí tự nguyện của chị R, anh Tô T không phải cấp dưỡng cho con.

Vì quyền lợi về mọi mặt của cháu H, các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng cho con nếu có căn cứ hợp pháp.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn tiếp tục khẳng định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn Tăng Thị Phì R phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo Biên lai số 0003981 ngày 12/10/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu. Chị R đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Chị Tăng Thị Phì R có quyền kháng cáo đối với Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án; anh Tô T có quyền kháng cáo trong thời hạn nêu trên kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ