- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trịnh Ngọc D - Vũ Văn C "Tranh chấp ly hôn""
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về yêu c u “xin ly hôn” c a nguyên đơn chị Trịnh Ngọc D.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 107 Luật Hôn nhân gia và gia đình; Điều 11 Luật Hôn nhân gia và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2019/HNGĐ- ST Ngày: 29 - 3 - 2019. V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Xuân Hòa.
Ông Đào Đức Nghĩa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Minh Công - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 3 năm 2019 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 01/2018/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trịnh Ngọc D, sinh năm 1983.
Nơi ĐKHKTT: Tổ 1, khu 4B, phường H1, thành phố H2, tỉnh Quảng Ninh.
Chỗ ở: Tổ 8, khu 5, phường Tr, thành phố H2, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Vũ Văn C, sinh năm 1979.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ 1, khu 4B, phường H1, thành phố H2, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/8/2018, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Trịnh Ngọc D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Văn C chung sống, đăng ký kết hôn vào ngày 18/9/200 tại y ban nhân dân phường H1, thành phố H2 là hoàn toàn tự do, tự nguyện, không bị ai ép buộc. Trư㜠c khi kết hôn thì anh chị đều chưa có v , có chồng và có thời gian tìm hiểu, yêu thương nhau khoảng 01 năm. V chồng chung sống hạnh ph c đến cuối năm 2009 thì phát sinh mâu thu n. Nguyên nhân mâu thu n là do anh chị bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung về mặt tình cảm, lo toan kinh tế trong gia đình. Anh C đi làm nhưng thường xuyên không đưa tiền để phụ gi p chị trong việc lo toan cho cuộc sống chung. Trong việc giáo dục con chung thì không thống nhất, mỗi người một ý. Do đó, anh chị thường xuyên xảy ra to tiếng, c i mắng nhau, ảnh hưởng đến mọi người xung quanh và việc giáo dục con chung. Trong các l n mâu thu n v chồng diễn ra thì anh C có d ng tay đánh chị 1- 2 l n. Mâu thu n v chồng diễn ra thì tổ dân khu phố biết và có khuyên can, hòa giải nhưng không có kết quả. T tháng 10 năm 201 , chị và con chung đ chuyển đi nơi khác, sống ly thân v㜠i anh C, không ai quan tâm đến đời sống c a ai. Đến nay tình cảm v chồng giữa chị và anh C đ không còn, mục đ ch hôn nhân không đạt đư c nên chị xin đư c ly hôn v㜠i anh Vũ Văn C.
Về con chung: V chồng anh, chị có 01 con chung là: Vũ Minh Q, sinh ngày 05/8/2007. Khi ly hôn, chị đề nghị đư c trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Vũ Minh Q đến đ tuổi thành niên (đ 18 tuổi). Chị yêu c u anh C phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng v㜠i số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng)/tháng, thời gian cấp dưỡng bắt đ u t nh t tháng 4/2019 cho đến khi con chung đ tuổi thành niên (đ 18 tuổi).
Về tài sản chung: Anh, chị không có tài sản chung, không yêu c u Tòa án giải quyết.
Về khoản n : Anh, chị không vay n c a tổ chức hay cá nhân nào, không yêu c u Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 20/12/2018, biên bản hòa giải ngày 07/3/2019, bị đơn là anh Vũ Văn C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh xác nhận điều kiện và hoàn cảnh kết hôn như chị D trình bày là đ ng. V chồng anh chị chung sống hạnh ph c đến cuối năm 2013 thì phát sinh mâu thu n. Nguyên nhân mâu thu n là chị D không muốn chung sống c ng nhà v㜠i bố mẹ chồng, do không h p t nh cách. Chị D nói v㜠i anh là đi ra ngoài thuê nhà ở nhưng anh không đồng ý. Chị D cho rằng hai v chồng thường xuyên c i nhau và anh có đánh chị D là không đ ng. Ngoài việc chị D không muốn chung sống c ng v㜠i bố mẹ chồng thì giữa anh và chị D không có mâu thu n gì khác. Mâu thu n v chồng giữa anh chị thì tổ dân khu phố không biết, chưa hòa giải l n nào. Tháng 10 năm 201 , chị D và con chung đ bỏ ra ngoài thuê nhà trọ ở riêng, anh chị sống ly thân nhau. T khi chị D bỏ đi đến nay thì anh, chị không nói chuyện v㜠i nhau để hòa giải, hàn gắn tình cảm v chồng. Đến nay, tình cảm v chồng giữa anh và chị D v n còn, đời sống chung có thể tiếp tục kéo dài. Do đó, chị D đề nghị v chồng ly hôn, anh không đồng ý.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung như chị D trình bày là đ ng. Nếu ly hôn, anh đề nghị đư c trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Vũ Minh Q đến đ tuổi thành niên (đ 18 tuổi). Anh không yêu c u chị D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung hàng tháng.
Về tài sản chung và các khoản n : Như chị D trình bày là đ ng, anh chị không yêu c u Tòa án giải quyết.
Tòa án đ tiến hành xác minh tại tổ dân, khu phố nơi chị D và anh C sinh sống thì đư c biết v chồng anh C, chị D phát sinh mâu thu n vào năm 201 . Anh chị đ xảy ra c i mắng nhau về vấn đề kinh tế trong gia đình. T đ u năm 2017 đến nay, chị D c ng con chung chuyển đi nơi khác để sinh sống, không sống c ng nhà v㜠i anh C.
Tại Biên bản ghi lời khai ngày 27/02/2019 c a cháu Vũ Minh Q, sinh ngày 05/8/2007, con chung c a chị D và anh C có nguyện vọng ở v㜠i chị D.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H2, tỉnh Quảng Ninh tham gia tố tụng tại phiên tòa nêu quan điểm về việc tiến hành tố tụng và nội dung giải quyết vụ án dân sự, cụ thể:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng c a Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đ thực hiện đ ng quy định c a Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật c a đương sự: Nguyên đơn, bị đơn đ thực hiện đ ng quyền và nghĩa vụ c a mình theo quy định c a pháp luật.
Về nội dung, đề nghị HĐXX giải quyết: Chị Trịnh Ngọc D đư c ly hôn anh Vũ Văn C và giao con chung Vũ Minh Q cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên, anh C phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng v㜠i số tiền 2.000.000đ/tháng, thời gian cấp dưỡng bắt đ u t nh t tháng 4/2019 cho đến khi con chung đ tuổi thành niên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đ đư c thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết c a Tòa án nhân dân thành phố H2 theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt c a đương sự: Bị đơn anh Vũ Văn C vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227 c a Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh C.
Quá trình tiến hành tố tụng cũng như tại phiên tòa đương sự đ thực hiện đ y đ các quyền và nghĩa vụ c a mình theo quy định c a pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Ngọc D và anh Vũ Văn C chung sống, đăng ký kết hôn ngày 18/9/200 tại y ban nhân dân phường H1, thành phố H2, tỉnh Quảng Ninh là quan hệ hôn nhân h p pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa v chồng theo quy định c a Luật Hôn nhân và gia đình.
Sau khi kết hôn, v chồng chung sống hạnh ph c đư c một thời gian nhưng đến cuối năm 2009 thì phát sinh mâu thu n v chồng. Nguyên nhân mâu thu n là do bất đồng quan điểm trong việc lo toan kinh tế, đời sống trong gia đình. Trong việc giáo dục con chung thì không thống nhất, mỗi người một ý. Do đó, anh chị có xảy ra to tiếng, c i mắng nhau, ảnh hưởng đến việc giáo dục con chung. Anh C, chị D đều xác nhận t tháng 10 năm 201 đến nay, chị D đ chuyển đi nơi khác để sinh sống, v chồng sống ly thân nhau, không còn quan tâm chăm sóc đến nhau nữa. Anh C đề nghị Tòa án hòa giải để v chồng đoàn tụ, chị D không đồng ý. Tòa án đ tiến hành xác minh tại tổ dân, khu phố nơi chị D và anh C sinh sống thì đư c biết v chồng anh C, chị D phát sinh mâu thu n t năm 201 , đ xảy ra to tiếng, c i mắng nhau. T đ u năm 2017 đến nay, chị D không sống c ng nhà v㜠i anh C, v chồng không còn quan tâm đến đời sống tình cảm c a nhau. Như vậy, mâu thu n v chồng giữa chị D và anh C đ tr m trọng, hai người sống ly thân nhau thời gian dài, v chồng không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc gi p đỡ nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đ ch hôn nhân không đạt đư c. Vì vậy, yêu c u xin ly hôn c a chị D là có cơ sở ph h p v㜠i quy định tại Điều 5 c a Luật Hôn nhân và gia đình nên đư c chấp nhận.
Về con chung: Các đương sự thống nhất có 01 con chung là: Vũ Minh Q, sinh ngày 05/8/2007.
Chị D và anh C đều có nguyện vọng đư c trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung Vũ Minh Q đến tuổi thành niên (đ 18 tuổi). Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi c n phải xem xét mọi mặt và quyền l i c a con chưa thành niên.
Theo xác minh tại địa phương, anh C và chị D đều có công việc và thu nhập ổn định, đảm bảo để nuôi dạy con chung. Hội đồng xét xử thấy, cháu Q là con gái, có nguyện vọng ở v㜠i mẹ và hiện đang sinh sống ổn định c ng v㜠i chị D nên giao con cho chị D đư c trực tiếp nuôi dưỡng sẽ thuận tiện hơn cho việc chăm sóc, đảm bảo phát triển tốt về thể chất và tinh th n. Do đó, nguyện vọng nuôi con c a chị D ph h p v㜠i nguyện vọng c a cháu Q và ph h p v㜠i quy định c a pháp luật nên chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị D yêu c u anh C phải cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng v㜠i số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng)/tháng, thời gian cấp dưỡng bắt đ u t nh t tháng 4/2019 cho đến khi con chung đ 18 tuổi. Hội đồng xét xử thấy, anh C là công nhân nên công việc, thu nhập ổn định. Do đó, để đảm bảo quyền l i, nhu c u thiết yếu c a con, c n buộc anh C có nghĩa vụ cấp dưỡng mỗi tháng 2.000.000đ (Hai triệu đồng) là ph h p v㜠i quy định tại các Điều 107, 110 và 11 Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung: Các đương sự không có, không yêu c u Tòa án giải quyết.
Về khoản n : Không có, không yêu c u Tòa án giải quyết.
[ ] Về án ph : Chị D phải nộp án ph sơ thẩm ly hôn theo quy định c a pháp luật. Anh C phải nộp án ph cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 51, Điều 5 , Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110 và Điều 11 Luật Hôn nhân gia và gia đình; khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 2 , Điều 27 Nghị quyết số 32 /201 /UBTVQH14 ngày 30/12/201 về án ph , lệ ph Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về yêu c u “xin ly hôn” c a nguyên đơn chị Trịnh Ngọc D.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Ngọc D đư c ly hôn v㜠i anh Vũ Văn C.
Về con chung: Giao con chung Vũ Minh Q, sinh ngày 05/8/2007 cho chị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến đ tuổi thành niên (đ 18 tuổi). Anh C có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung hàng tháng v㜠i số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng)/tháng, thời gian cấp dưỡng bắt đ u t nh t tháng 4/2019 cho đến khi con chung đ tuổi thành niên (đ 18 tuổi). Anh C có quyền thăm nom con chung không ai đư c cản trở. Người trực tiếp nuôi con c ng các thành viên trong gia đình không đư c cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Kể t ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối v㜠i các trường h p cơ quan thi hành án có quyền ch động ra quyết định thi hành án) hoặc kể t ngày người đư c thi hành án có đơn yêu c u thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành trả tiền thì phải chịu l i suất tương ứng v㜠i thời gian và số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.
Về tài sản chung: Không có, không yêu c u Tòa án giải quyết.
Về khoản n : Không có, không yêu c u Tòa án giải quyết.
Về án ph : Chị Trịnh Ngọc D phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án ph dân sự sơ thẩm ly hôn, nhưng đư c tr vào số tiền tạm ứng án ph 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đ nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án ph số 0000379, ngày 23/11/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố H2, tỉnh Quảng Ninh. Anh Vũ Văn C phải nộp số tiền 300.000 đồng án ph cấp dưỡng nuôi con theo kỳ.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể t ngày tuyên án. Báo cho bị đơn biết biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể t ngày nhận đư c bản án hoặc kể t ngày niêm yết bản án tại nơi cư tr .
Trường h p bản án, quyết định đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người đư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều , 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TP H2; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - Chi cục THADS TP H2; - UBND phường H1, TP H2, tỉnh Quảng Ninh; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Đạt |