- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hùng-Lệ"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Mạnh H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 170 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH GIA LAI Bản án số:18/2019/HNGĐ-ST Ngày: 08/10/2019 V/v:“Ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PT, TỈNH GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Đức Ruyệt.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Rmah Ét và bà Phạm Thị An.
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Bá Thới - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện PT, tỉnh Gia Lai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PT tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 10 năm 2019, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện PT, tỉnh Gia Lai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 51/2019/TLST- HN&GĐ ngày 03/6/2019; về việc Tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 03/9/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 25/2019/QĐST-HNGĐ ngày 20/9/2019, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Trần Mạnh H, sinh năm: 1981;
Địa chỉ: tổ dân phố 07, thị trấn PT, huyện PT, Gia Lai (có mặt).
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm: 1986;
Địa chỉ: Thôn N, xã I, huyện PT, Gia Lai (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/6/2019, bản tự khai cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn anh Trần Mạnh H trình bày:
Về hôn nhân: Tôi và chị L tìm hiểu yêu nhau, chúng tôi kết hôn vào ngày 05/11/2004 tại Ủy ban nhân dân thị trấn PT, huyện PT, tỉnh Gia Lai, việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện không ai ép buộc, cuộc sống chung của vợ chồng không được hạnh phúc vì chị L ham chơi bời, không lo làm ăn chăm lo gia đình nuôi dạy con cái, nên mâu thuẫn thường xuyên xẩy ra, tôi cố gắng chịu đựng nhưng không thể khắc phục được, chúng tôi sống ly thân nhau từ năm 2009 đến nay, hiện nay tôi không còn tình cảm yêu thương chị L nữa, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, vì vậy yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với chị L.
Về con chung: Tôi và chị L có 02 con chung, tên Trần Thị O, sinh ngày 06/8/2003 và Trần Thị Thu T, sinh ngày 15/10/2006; nếu ly hôn tôi xin nhận nuôi 02 con chung và không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí ly hôn: Tôi tự nguyện chịu án phí theo quy định.
Đối với bị đơn Nguyễn Thị L: Quá trình Thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập, tống đạt các văn bản tố tụng cho chị L theo đúng quy định của pháp luật, nhưng chị L không lên làm việc, không có mặt, không khai báo, nên Tòa án phải đi xác minh và lập các thủ tục tống đạt hợp L các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo phiên họp kiểm tra giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải...Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa, tại địa chỉ và nơi ở của chị L theo đúng quy định của pháp luật, nhưng chị L vẫn không tham gia tố tụng, không hợp tác cùng Tòa án để giải quyết vụ án, không có ý kiến phản hồi gì đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PT, tỉnh Gia Lai phát biểu quan điểm về tố tụng:
Căn cứ vào khoản 4 điều 27 Luật tổ chức Viện kiểm sát;
Căn cứ vào các Điều 28; 35; 39; 147; 170; 195; 203; 205; 220; 227; 233; 235 và 262 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; Điều 53; Điều 54; Điều 56; Điều 57 và Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, L phí Tòa án.
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm
phán đã thực hiện đầy đủ, từ khâu thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận và hòa giải, các bước tống đạt quy trình tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định, đúng thẩm quyền giải quyết, thời gian giải quyết vụ án đảm bảo, giải quyết theo yêu cầu nội dung khởi kiện; Hội đồng xét xử thực hiện đầy đủ trình tự các bước của phiên tòa dân sự sơ thẩm.
Về nội dung: Quan hệ về tranh chấp Ly hôn và nuôi con chung là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn để giải quyết ly hôn của anh Trần Mạnh H với chị Nguyễn Thị L.
Về con chung: anh H và chị L có 02 con chung, tên Trần Thị O, sinh ngày 06/8/2003 và Trần Thị Thu T, sinh ngày 15/10/2006; anh H là người chăm sóc nuôi dưỡng 02 con chung từ khi chị L và anh H ly thân cho đến nay, nên việc giao con chung cho anh H chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục là có cơ sở, hơn nữa nguyện vọng của 02 cháu đều muốn ở với bố nếu bố mẹ ly hôn; anh H không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.
Về tài sản chung nợ chung: Không xem xét do đương sự không có yêu cầu.
Về án phí: anh H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra
tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp L Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn theo đúng quy định của pháp luật, bị đơn không đến làm việc, không hợp tác cùng Tòa án để ký nhận văn bản hòa giải hoặc bản khai khi Tòa án làm việc, không viết bản tự khai và cũng không có ý kiến phản hồi gì bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tại phiên tòa bị đơn vắng mặt lần thứ nhất, nên phải hoãn phiên tòa; mở phiên tòa xét xử lần thứ hai theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: anh Trần Mạnh H với chị Nguyễn Thị L kết hôn trên cở sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ia AKe, huyện PT, tỉnh Gia Lai vào ngày 05/11/2004; quan hệ hôn nhân của anh H và chị L là hợp pháp.
Quá trình chung sống, mâu thuẫn giữa anh H và chị L luôn xảy ra (theo biên bản xác minh và anh H khai) vợ chồng hay bất đồng quan điểm, chị L ham chơi bời không có trách nhiệm với gia đình, anh H và chị L sống ly thân nhau từ năm 2009 đến nay, tình cảm giữa anh H và chị L không còn. Hội đồng xét xử, xét cuộc sống vợ chồng anh H và chị L không có ý thức hỗ trợ chia sẻ nhau trong công việc, tình cảm giữa anh H và chị L đã thực sự rạn nứt, mục đích hôn nhân không đạt, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, anh H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn; mặc dù chị L không tham gia tố tụng, không hợp tác cùng Tòa án để giải quyết vụ án, không có ý kiến phản hồi gì đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn; việc anh H khai là hoàn toàn có cơ sở, bởi lẽ việc quan tâm về tình cảm của vợ chồng phải diễn ra thường xuyên và liên tục, chứng tỏ họ không còn quan tâm đến cuộc sống chung của gia đình, đồng thời trách nhiệm của chị L đối với cuộc sống của chồng con là không còn; vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh H xin ly hôn với chị L là có cơ sở.
[3] Về con chung: anh H và chị L có 02 con chung, tên Trần Thị O, sinh ngày 06/8/2003 và Trần Thị Thu T, sinh ngày 15/10/2006; anh H là người chăm sóc nuôi dưỡng 02 con chung từ khi chị L và anh H ly thân cho đến nay, quá trình giải quyết vụ án nguyện vọng của 02 cháu (O và T) đều muốn ở với bố nếu bố mẹ ly hôn; nên việc giao con chung cho anh H trông nom chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục là có cơ sở
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, anh H không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến; nếu sau này anh H có yêu cầu, thì sẽ khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét để giải quyết.
[5] Về án phí: anh H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28; 35; 39; 147; 170; 195; 203; 205; 220; 227; 233; 235 và 262 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; Điều 53; Điều 54; Điều 56; Điều 57 và Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Đieàu 27 của Nghị quyết 326/2016/UTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, L phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Mạnh H.
Về hôn nhân: anh Trần Mạnh H được ly hôn chị Nguyễn Thị L.
Về con chung: Giao con 02 chung tên Trần Thị O, sinh ngày 06/8/2003 và Trần Thị Thu T, sinh ngày 15/10/2006 cho anh Trần Mạnh H là người được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật cho đến khi 02 cháu (O và T) thành niên và tự lập được hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và tài sản để tự nuôi mình; chị L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Vì lợi ích của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và áp dụng việc cấp dưỡng nuôi con chung; chị L có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở thực hiện quyền này.
Nếu người không trực tiếp nuôi con chung lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con; người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Về án phí: anh Trần Mạnh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0006318 ngày 03/6/2019, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện PT, tỉnh Gia Lai; anh H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
Trong thời hạn 15ngày, kể từ ngày tuyên án (08/10/2019) các đương sự có quyền kháng cáo bản án; riêng chị L vắng mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân xã phường nơi cư trú, lên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -Tòa án tỉnh; -VKSND.H PT; -Chi cục THADS.H PT; -Người tham gia tố tụng; -UBND xã nơi ĐKKH; -Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Bùi Đức Ruyệt |