vanban.org

Bản án 18/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Xử ly hôn giữa chị Phạm Thị Huyền T với anh Vũ Duy N.

2/ Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Phạm Thị Huyền T phải nộp 300.000đ nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/3045 ngày 27/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 1/ Xử ly hôn giữa chị Phạm Thị Huyền T với anh Vũ Duy N.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
Huyện K -tỉnh Ninh Bình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2019/HNGĐ-ST
Ngày 09/8/2019
"V/v: Tranh chấp ly hôn "

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K - TỈNH NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Nguyễn Hữu Mạnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Xuân Dự và ông Vũ Đức Bính

Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Thành, Thư ký Toà án nhân dân huyện K

- tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K tham gia phiên tòa: Ông Ninh Trọng Khánh, Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 94/2019/TLST-HNGĐ ngày 27/5/2019 về việc "Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2019/QĐST - HNGĐ ngày 08/7/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Huyền T , sinh năm 1990; ĐKHKTT: Số nhà 2/69, tổ 5, Phố P, thị trấn D, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Chỗ ở hiện nay: Xóm V, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình.

2. Bị đơn: Anh Vũ Duy N, sinh năm 1990; ĐKHK và chỗ ở: Số nhà 2/69, tổ 5, phố P, thị trấn D, huyện K, tỉnh Ninh Bình.

Tại phiên tòa: có mặt chị T vắng mặt anh N.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn ngày 22/5/2019 được bổ sung tại bản tự khai ngày 27/5/2019 nguyên đơn chị Phạm Thị Huyền T trình bày: Chị và anh Vũ Duy N kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn D, huyện K, tỉnh Ninh Bình ngày 22/01/2018. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau được 3 tháng thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp vì trước đó giữa chị và anh N có thời gian tìm hiểu rất ngắn đã tiến tới kết hôn vì vậy, trong cuộc sống vợ chồng không thực sự hiểu rõ về nhau dẫn đến xô xát, cãi vã lẫn nhau, mặc dù đã được gia đình khuyên nhủ nhưng mâu thuẫn vợ chồng không được cải thiện mà ngày càng trầm trọng hơn. Do vậy chị và anh N đã ly thân nhau từ tháng 5/2018 đến nay, chị về quê ở xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình sinh sống, còn anh N vẫn sống tại thị trấn D, huyện K, tỉnh Ninh Bình vợ chồng không quan tâm đến cuộc sống chung nữa. Nay chị xác định mâu thuẫn vợ chồng không thể khắc phục được, vợ chồng ly thân đã lâu tình cảm không còn nữa, chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N để ổn định cuộc sống.

Về con cái và tài sản: Chị xác định giữa chị và anh N không có con chung, không có tài sản chung. Khi ly hôn chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn trong vụ án anh Vũ Duy N có ĐKHKTT tại: số nhà 2/69, tổ 5, phố P, thị trấn D, huyện K, tỉnh Ninh Bình; sau khi thụ lý vụ án, Toà án nhân dân huyện K đã giao Thông báo thụ lý vụ án, giao các tài liệu, chứng cứ theo đề nghị của nguyên đơn, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của BLTTDS cho anh N. Mặc dù anh N đang có mặt tại nhà bố mẹ đẻ ở số nhà 2/69, tổ 5, phố P, thị trấn D, huyện K, tỉnh Ninh Bình, đã nhận được thông báo và nhận các văn bản tố tụng, biết rõ việc TAND huyện K đang giải quyết vụ án ly hôn giữa chị T với anh, nhưng anh N không hợp tác vì vậy, Toà án đã phối hợp với gia đình là ông Vũ Danh M là bố đẻ của anh N để vận động thuyết phục, kết hợp với việc giao các văn bản tố tụng của Toà án tuy nhiên anh N vẫn không đến Tòa án làm việc; không có văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị T.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện K qua bài phát biểu tại phiên tòa thể hiện Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn trong vụ án đã chấp hành theo quy định của pháp luật, còn bị đơn không chấp hành theo quy định của pháp luật, đồng thời đề xuất việc giải quyết vụ án theo hướng chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn, đề xuất xử ly hôn giữa chị Phạm Thị Huyền T với anh Vũ Duy N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[ 1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Huyền T và anh Vũ Duy N kết hôn với nhau trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn D ngày 22/01/2018. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, xô xát với nhau, mâu thuẫn ngày càng trở lên trầm trọng nên chị T đã chuyển về xóm V, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình sống ly thân với anh N từ tháng 5 năm 2018 đến nay, vợ chồng không quan tâm đến nhau nữa. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn với anh N để ổn định cuộc sống, còn anh N mặc dù đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án nhưng không có bản tự khai và từ chối hòa giải, có ý bỏ mặc, không quan tâm, không có biện pháp khắc phục mâu thuẫn duy trì cuộc sống vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy cuộc sống chung của vợ chồng giữa chị T và anh N đã có thời gian dài sống ly thân, không ai quan tâm đến nhau; mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng không còn khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh N là phù hợp.

[ 2 ] Về con cái và tài sản: Chị T xác định vợ chồng không có con chung, không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết; còn anh N không có ý kiến gì vì vậy, HĐXX không xem xét.

[ 3 ] Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; căn cứ Điều 144, 147, 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án:

1/ Xử ly hôn giữa chị Phạm Thị Huyền T với anh Vũ Duy N.

2/ Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Phạm Thị Huyền T phải nộp 300.000đ nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/3045 ngày 27/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được THADS, người phải THADS có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật THADS; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THADS.

Án xử sơ thẩm công khai, chị T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ