- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Hồng D - Huỳnh Văn Vinh E"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Trần Hồng D được ly hôn với anh Huỳnh Văn Vinh E.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2019/HNGĐ-ST Ngày 19-8-2019 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Đua
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Văn Quân
Ông Dương Hồng Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngoan, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Minh – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 69/2019/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2019 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Hồng D, sinh năm 1992 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp M, xã H, huyện BC, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn Vinh E, sinh năm 1989 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện CLD, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 22/4/2019, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Hồng D trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Huỳnh Văn Vinh E được cha mẹ đôi bên tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 06/4/2010 tại Ủy ban nhân xã Đ theo quy định pháp luật. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến đầu tháng 01/2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng ý kiến trong cuộc sống, nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc và kể từ tháng 6/2016 chị và anh Vinh E sống ly thân cho đến nay.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị và anh Vinh E có 01 người con chung tên: Huỳnh Trọng K, sinh ngày 17/7/2011. Hiện nay, cháu K đang sống chung với chị.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Về hôn nhân: Chị yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Văn Vinh E.
- Về con chung: Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung: Huỳnh Trọng K, sinh ngày 17/7/2011 cho đến khi thành niên và chị không yêu cầu anh Vinh E cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Huỳnh Văn Vinh E đã được Tòa án thông báo và triệu tập hợp lệ từ khi thụ lý vụ án cho đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh Vinh E đều vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CLD phát biểu ý kiến tại phiên tòa: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, đối với bị đơn đều vắng mặt các lần Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và đều vắng mặt tại các lần mở phiên tòa xét xử. Cho nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn theo quy định của pháp luật.
Về nội dung giải quyết vụ án: Qua xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quá trình tranh tụng tại phiên tòa cho thấy: Tình trạng hôn nhân giữa chị Trần Hồng D với anh Huỳnh Văn Vinh E đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, các bên đương sự hiện không ai quan tâm chăm sóc lẫn nhau, chị D và anh Vinh E đã sống ly thân từ tháng 6/2016 cho đến nay. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử cho chị D được ly hôn với anh Vinh E.
Về con chung: Đối với cháu Huỳnh Trọng K, sinh ngày 17/7/2011, từ khi chị D và anh Vinh E sống ly thân đến nay thì chị D là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K, nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu K cho chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho anh Vinh E, không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị D không yêu cầu anh Vinh E cấp dưỡng nuôi cháu K nên không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị D cho rằng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn có địa chỉ tại ấp B, xã Đ, huyện CLD, tỉnh Sóc Trăng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện CLD thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” là đúng với quy định của pháp luật.
Đối với bị đơn anh Huỳnh Văn Vinh E, tại phiên tòa đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Xét đơn yêu cầu về việc xin ly hôn của chị Trần Hồng D đối với anh Huỳnh Văn Vinh E, Hội đồng xét xử xét thấy: Về quan hệ hôn nhân của chị D và anh Vinh E không vi phạm các điều kiện kết hôn và sau khi sống chung hai người có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện CLD, tỉnh Sóc Trăng nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, mối quan hệ hôn nhân giữa chị D với anh Vinh E phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, thiếu quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, tại phiên tòa chị D vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu xin được ly hôn với anh Vinh E. Mặt khác, giữa chị D với anh Vinh E đã sống ly thân từ tháng 6/2016 cho đến nay. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa các bên đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận cho chị D được ly hôn với anh Vinh E.
Về con chung: Đối với cháu Huỳnh Trọng K, sinh ngày 17/7/2011, từ khi chị D và anh Vinh E sống ly thân cho đến nay, chị D là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao cháu K cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên là phù hợp với nguyện vọng của cháu K và phù hợp với quy định của pháp luật. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho anh Vinh E, không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị D không yêu cầu anh Vinh E cấp dưỡng nuôi cháu K nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị D cho rằng là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Lời đề nghị của Vị Kiểm sát viên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Chị Trần Hồng D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 5, khoản 1 Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 143, Điều 144, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chị Trần Hồng D được ly hôn với anh Huỳnh Văn Vinh E.
2. Về con chung tên: Chị Trần Hồng D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên: Huỳnh Trọng K, sinh ngày 17/7/2011 đến khi thành niên. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho anh Vinh E, không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị D không yêu cầu anh Vinh E cấp dưỡng nuôi cháu K nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4. Về án phí: Chị Trần Hồng D phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị D đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006082, ngày 22 tháng 4 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CLD. Như vậy, chị D đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Anh Huỳnh Văn Vinh E không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự năm 2014.
| Nơi nhận: - VKSND huyện CLD; - Chi cục THADS huyện CLD; - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh ST; - Các đương sự; - UBND xã Đ, H.CLD; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đặng Văn Đua |