vanban.org

Bản án 18/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 29/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Minh P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: điểm a, d khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trịnh Minh P 21 (Hai mươi mốt) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 42 (Bốn mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/11/2018).

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phịnh Minh P vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Minh P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN YÊN
TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 18 /2018/HS-ST
Ngày: 29-11-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN YÊN – TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Đức Tuấn;

Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Giúp;

2. Bà Vi Thị Nghiêm;

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Quỳnh Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên - tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thành Long - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2018 tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 16/2018/HSST ngày 15/11/2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2018/QĐXXTS-HS ngày 19/11/2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trịnh Minh P - tên gọi khác: Không;

Sinh ngày … tháng … năm 1979, tại UB, Quảng Ninh;

Nơi cư trú: Tổ X, khu Y, phường QT, thành phố UB, tỉnh Quảng Ninh

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Nghề nghiệp: Lái xe;

Trình độ học vấn: Lớp 9/12.

Con ông Trịnh Minh X (đã chết) và bà Nguyễn Thị Y – sinh năm 1955.

Có vợ là Đinh Thị T – sinh năm 1984, có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2012.

Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.

* Người bị hại: + Anh Lê Hồng M – sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn C, xã CC, huyện H, tỉnh Quảng Ninh – Vắng mặt.

+ Chị Nguyễn Thị Thanh H – sinh năm 1986; Địa chỉ: Số XX, phố ND, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh – Vắng mặt.

Chị H đồng thời là đại diện theo ủy quyền của người bị hại Dương Thị H1 – sinh năm 1958; Địa chỉ: Số XX, phố ND, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh (Văn bản ủy quyền ngày 28/8/2018).

+ Bà Hoàng Thị Kim L – sinh năm 1960; Địa chỉ: phố N, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh – Vắng mặt.

+ Chị Nguyễn Thị T – sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện H, tỉnh Quảng Ninh – Vắng mặt.

+ Bà Đinh Thị T1 – sinh năm 1954; Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện H, tỉnh Quảng Ninh – Có mặt.

+ Anh Ngô Minh T2 – sinh năm 1986; Địa chỉ: Tổ C, khu N, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh – Vắng mặt.

+ Đại diện hợp pháp của người bị hại Nguyễn Thị Bình G (đã chết): anh Nguyễn Thái H2 - sinh năm 1983 - Địa chỉ: Số X, phố T, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh - là đại diện theo ủy quyền của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị hại Nguyễn Thị Bình G (văn bản ủy quyền ngày 28/9/2018), đồng thời là đại diện hợp pháp của người bị hại Nguyễn Hà S – sinh năm 2015 - Vắng mặt.

+ Đại diện hợp pháp của người bị hại Trần Phạm Phương T3 – sinh năm 2008: anh Trần Việt P1 - sinh năm 1982; Địa chỉ: Tổ X, khu N, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh - là bố của người bị hại Trần Phạm Phương T3 - Vắng mặt.

* Bị đơn dân sự: Công ty TNHH Thương mại và đầu tư BB.

Địa chỉ: số XYZ, Đường VM, phường VM, quận N, thành phố Hải Phòng.

Đại diện hợp pháp: Bà Trần Thị T4 – Giám đốc công ty.

Đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Thành L1 – sinh năm 1993;

Địa chỉ: Số xx, lô yy, LHP, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng (Văn bản ủy quyền ngày 19/11/2018) – Vắng mặt.

* Người làm chứng: Đinh Mạnh L2 – Có mặt; Phạm Anh D – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 08/6/2018, Trịnh Minh P (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ôtô đầu kéo biển kiểm soát (BKS) 15C-175.16, rơ moóc BKS 15R-096.99 chở thùng Container từ cửa khẩu Bắc Phong Sinh, huyện Hải Hà đi về thành phố Hải Phòng. Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, khi đi đến Km 211 + 600, Quốc lộ 18A thuộc thôn Đồng Mộc, xã Đông Ngũ, huyện Tiên Yên là đoạn đường xuống dốc, vòng về bên phải hướng Móng Cái - Hạ Long, trời mưa mặt đường trơn trượt, P điều khiển xe đi tốc độ khoảng 50km/h và đi sát vào dải phân cách phân chia giữa hai làn đường thì thấy xe ôtô chở khách, loại 16 chỗ, BKS 14B-021.97 do anh Lê Hồng M (sinh năm 1976; trú tại: xã CC, huyện H) điều khiển đi ngược chiều cách khoảng 30m, trên xe chở chị Nguyễn Thị Bình G (sinh năm 1987; trú tại: xã Q, huyện H) cùng con là cháu Nguyễn Hà S (sinh năm 2015), chị Hoàng Thị Kim L (sinh năm 1960) cùng cháu là Trần Phạm Phương T3 (sinh năm 2008), bà Đinh Thị T1 (sinh năm 1954), Nguyễn Thị T (sinh năm 1983), Nguyễn Thị Thanh H (sinh năm 1986), Dương Thị H1 (sinh năm 1958) và anh Ngô Minh T2 (sinh năm 1986), P đã điều khiển xe ôtô về bên phải và rà phanh. Do không giảm tốc độ đến mức không nguy hiểm khi đi qua đoạn đường vòng, mặt đường trơn trượt nên theo quán tính, phần đuôi phía sau bên trái rơ moóc chở thùng Container xe ôtô do P điều khiển đã trượt rê sang phần đường bên trái và va chạm với phần sườn bên trái xe ôtô do anh M điều khiển gây tai nạn, làm xe ôtô khách bị rê trượt rồi lật đổ sang bên phải và tiếp tục rê trượt về phần đường bên phải theo hướng Hạ Long – Móng Cái. Hậu quả: chị Nguyễn Thị Bình G bị tử vong; chị Hoàng Thị Kim L, Đinh Thị T1, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị Thanh H, Dương Thị H1, anh Ngô Minh T2; cháu Nguyễn Hà S và Trần Phạm Phương T3 bị thương nhẹ; Xe ôtô đầu kéo BKS 15C-175.16, rơ moóc BKS 15R-096.99 chở thùng Container bị hư hỏng nhẹ; Xe ôtô chở khách BKS 14B-021.97 bị hư hỏng nặng.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường (Số đo hiện trường xác định theo hướng Hạ Long – Móng Cái và lấy mép đường bên trái là mép đường chuẩn), thể hiện: Đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường vòng về bên trái, lên dốc âm 3o. Mặt đường trải nhựa rộng 10m, được chia thành hai chiều xe chạy bằng vạch kép, nét liền sơn màu vàng; phần đường bên trái rộng 5,5m, lề đường bên trái cách hiện trường 120m về hướng Móng Cái có cắm biển báo nguy hiểm “Chỗ ngoặt vòng bên phải”; phần đường bên phải tiếp giáp với làn đường mở rộng, rộng 2,8m ngăn cách bằng vạch sơn đứt quãng, tiếp đến là vực sâu.

Hiện trường để lại gồm: 01 mảnh nhựa vỡ màu trắng (số 01) cách mép đường chuẩn 5,7m; 01 mảnh nhựa vỡ màu trắng (số 02) cách vết (số 01) 2,8m về hướng Móng Cái, cách mép đường chuẩn 6,5m; 01 mảnh nhựa vỡ màu đen (số 03) cách vết ( số 02) 3,6m về hướng Móng Cái, cách mép đường chuẩn 7,9m; 01 thanh kim loại màu vàng (số 04) cách vết (số 03) 7,6m về hướng Móng Cái, cách mép đường chuẩn 12m; 01 đám mảnh nhựa vỡ màu đỏ dạng nhựa bảo vệ đèn xi nhan (số 05) cách vết (số 03) 7,4m về hướng Móng Cái, cách mép đường chuẩn 11,3m; 01 vết mài xước mặt hình cung dài 08m chiều hướng Hạ Long – Móng Cái (số 06), đầu vết cách vết (số 04) 7m về hướng Móng Cái, cách mép đường chuẩn 12,4m, điểm cuối cách mép đường chuẩn 12,6m; 01 vết trượt xước mặt đường kích thước (3,2 x 1,75)m hướng Hạ Long – Móng Cái (số 07), đầu vết trùng mép đường bên phải; 01 đám mảnh nhựa vỡ trong diện kích thước (24 x 4)m (số 07), tâm cách trục bánh trước bên phải xe ôtô BKS 14B-021.97 13,8m, cách mép đường chuẩn 10,5m; 01 xe ôtô BKS 14B-021.97 đổ sang phải, đầu xe quay về phía lòng đường, trục bánh trước bên phải cách dấu vết (số 01) 37,2m, cách mép đường chuẩn 7,2m. 01 xe ôtô đầu kéo BKS 15C-175.16, rơ moóc BKS 15R-096.99 đỗ ở lề đường bên trái. (Bút lục số 35-38).

- Biên bản khám nghiệm xe ôtô đầu kéo BKS 15C-175.16, rơ moóc BKS 15R-096.99 chở thùng Container: phía sau cùng bên trái thùng Container có vết xước kim loại kích thước (126x84)cm, hướng từ trước về sau, cạnh dưới thùng Container có nhiều mảnh kính vỡ; mặt ngoài thanh sắt xi phía cuối bên trái rơ moóc có dấu vết trượt xước sơn kim loại, kích thước (150 x 25)cm hướng từ trước về sau, từ trái qua phải, điểm thấp nhất cách mặt đất 124cm; mặt ngoài chắn bùn sau cùng bên trái rơ moóc có vết trượt xước sơn kim loại, kích thước (103 x 4,8)cm hướng từ trước về sau, điểm thấp nhất cách mặt đất 110cm; mặt ngoài má lốp phía ngoài sau cùng bên trái rơ moóc có vết trượt xước, rách cao su kích thước (47 x 23)cm; đèn xi nhan ngoài cùng phía sau bên trái rơ moóc bị mất kính bảo vệ. (Bút lục số 43-44).

- Biên bản khám nghiệm xe ôtô Ford Transit loại 16 chỗ, BKS 14B-021.97: vỡ tung hoàn toàn kính chắn gió phía trước, khung bên trái kính chắn gió bị trượt xước, móp hướng từ trước về sau, rách thủng kim loại kích thước (81 x 23)cm; Tai xe bên trái bị bẹp móp, rách thủng kim loại kích thước (55 x 40)cm hướng từ trước về sau, từ trái sang phải, đầu vết cách mặt đất 124cm; Ba đờ sốc trước bên trái bật lẫy khỏi vị trái ban đầu; Gẫy rụng cụm gương chiếu hậu trái của xe; Cánh cửa bên trái bị trượt xước sơn, xước kim loại, rách, thủng, móp biến dạng; Vỡ rụng hoàn toàn 02 ô cửa kính chắn gió cánh cửa bên trái; Sườn xe bên trái có vết trượt xước sơn kim loại, rách, thủng, móp biến dạng kích thước (178 x 287)cm, bề mặt bám dính sơn kim loại màu vàng; 02 ô cửa kính sườn xe bên trái vỡ hoàn toàn; Mặt ngoài nóc xe vị trí giáp sườn xe bên trái bị trượt xước sơn, xước kim loại, bẹp móp theo hướng từ trước về sau, từ trái sang phải kích thước (238 x 21)cm; Giá để chân bước lên cửa bên trái bị gãy rời vị trí; Tai xe, cua lốp, cánh cửa phía trước, cửa lùa, thân xe, nóc xe bên phải bị trượt xước sơn, xước kim loại; Vỡ 02 ô cửa kính phía trước, 02 ô cửa kính lùa bên phải và 02 ô cửa kính sườn xe phía sau bên phải; Dấu vết máu dạng quệt chảy tại vị trí cửa lùa và sườn xe bên phải . (Bút lục số 39-42).

+ Biên bản khám nghiệm tử thi Nguyễn Thị Bình G lập ngày 08/6/2018, thể hiện: Xước da và rách da vùng hàm mặt trái trong diện (18 x 16)cm; Vỡ xương hàm mặt trái; Vỡ xương hàm dưới vị trí góc hàm trái; Vỡ xương hàm trên vị trí răng cửa; Có máu trong lỗ tai, mũi, miệng. (Bút lục số 45-46).

+ Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 61 /GĐPY ngày 18/6/2018, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Chị Nguyễn Thị Bình G bị tử vong là do chấn thương sọ não. (Bút lục số 23).

+ Bản kết luận giám định số 01 ngày 12/07/2018, của Trung tâm đăng kiểm 1403D Công ty cổ phần đăng kiểm cơ giới đường bộ Quảng Ninh, kết luận: đầu kéo BKS 15C-175.16, rơ moóc BKS 15R-096.99 đạt tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường kể cả sau khi tai nạn. (Bút lục số 24-27).

+ Bản kết luận định giá tài sản số 29/KLĐG ngày 10/8/2018, của Hồi đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tiên Yên, kết luận: Xe ôtô BKS 14B-021.97 bị hư hỏng do tai nạn, có tổng giá trị thiệt hại là 113.507.500 đồng (Một trăm mười ba triệu năm trăm lẻ bảy nghìn năm trăm đồng) (Bút lục số 30).

Tại Cơ quan điều tra, Trịnh Minh P đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. Nguyên nhân gây tai nạn là do P điều khiển xe ôtô đầu kéo chở thùng container đi xuống dốc, qua đoạn đường vòng lúc trời mưa, mặt đường trơn trượt, không giảm tốc độ đến mức không nguy hiểm nên phần phía sau rơ moóc và thùng container trượt sang phần đường bên trái và va chạm với xe ôtô khách dẫn đến tai nạn. (Bút lục số 102-106, 134-137).

Tại bản Cáo trạng số 17/CT-VKSTY ngày 14/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Trịnh Minh P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, d khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS 15C-175.16 kéo rơ moóc BKS 15R-096.99 chạy với vận tốc khoảng 40km/giờ, khi xe xuống dốc, đến đoạn đường cua, bị cáo điều khiển xe đi sát vào dải phân cách giữa 2 làn đường, lúc này phát hiện thấy có xe ô tô khách đi ngược chiều, bị cáo đã điều khiển xe đi về bên phải đường theo hướng đi của bị cáo và rà phanh. Do trời mưa, đường trơn, theo quán tính, phía sau của rơ moóc và thùng container trượt rê sang bên trái, va vào xe ô tô khách gây tai nạn. Bị cáo thừa nhận bị truy tố đúng người, đúng tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên tại phiên toà luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng đã nêu, đề nghị áp dụng điểm a, d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trịnh Minh P từ 18 đến 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng; cấm bị cáo điều khiển xe ô tô từ 01 đến 02 năm; trả lại giấy phép lái xe cho bị cáo nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Yên; Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và các đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đều đã thực hiện hợp pháp.

[2] Xét lời khai của bị cáo Trịnh Minh P trong quá trình điều tra (BL 102-106; 235-237) và lời khai tại phiên tòa cơ bản phù hợp với nhau, phù hợp với Sơ đồ hiện trường; Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông (BL 36-44); Biên bản khám nghiệm tử thi (BL 45-46); Bản ảnh (BL 47-83); Kết luận giám định số 61/ GĐPY ngày 18/6/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh (BL 23); Kết luận định giá tài sản số 29/KLĐG ngày 10/8/2018 của Hội đồng định giá tài sản huyện Tiên Yên (BL 30); Giấy chứng nhận thương tích của Trung tâm Y tế huyện Tiên Yên đối với đối với các nạn nhân vụ tai nạn; Phù hợp với lời khai của người làm chứng Phạm Anh D (BL 110-111); Đinh Mạnh L2 (BL 112-113); lời khai của những người bị hại, đại diện người bị hại, đại diện Bị đơn dân sự và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thấy có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 14 giờ ngày 08/6/2018, tại Km 211+600 Quốc lộ 18A, thôn Đồng Mộc, xã Đông Ngũ, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh là đoạn đường xuống dốc, vòng về bên phải hướng Móng Cái - Hạ Long, Trịnh Minh P (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ôtô đầu kéo BKS 15C-175.16, rơ moóc BKS 15R-096.99 chở thùng container đi hướng Móng Cái - Hạ Long. Do không giảm tốc độ đến mức không nguy hiểm khi qua đoạn đường vòng có biển cảnh báo nguy hiểm trong điều kiện trời mưa mặt đường trơn trượt, nên phần phía sau bên trái rơ moóc chở thùng container xe ôtô do P điều khiển đã trượt rê sang phần đường bên trái và va chạm với ôtô chở khách BKS 14B-021.97 do anh Lê Hồng M điều khiển đi ngược chiều gây tai nạn, làm xe ôtô chở khách bị lật đổ sang phải và rê trượt về phía trước. Hậu quả: chị Nguyễn Thị Bình G tử vong, 08 người đi trên xe ôtô khách bị thương nhẹ, xe ôtô khách BKS 14B-021.97 bị hư hỏng với tổng trị giá là 113.507.500 đồng.

[3] Hành vi của Trịnh Minh P đã vi phạm Điều 5 Thông tư số 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015, của Bộ giao thông vận tải, quy định về "Tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông trên đường bộ", gây hậu quả làm chết 01 (một) người, 08 (tám) người bị thương nhẹ và thiệt hại tài sản trị giá là 113.507.500 đồng, nên đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, d khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự, nội dung Điều luật quy định như sau:

Điều 5 Thông tư số 91/2015/TT-BGTVT quy định:

“Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ thấp hơn tốc độ tối đa cho phép (có thể dừng lại một cách an toàn) trong các trường hợp sau:

...

3. Qua nơi đường vòng.

4. Khi xuống dốc.

...

11. Trời mưa; mặt đường trơn trượt...”

Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

...

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng”.

Do đó Cáo trạng số 17/CT-VKSTY ngày 14/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Như chúng ta đã biết, tình hình tai nạn giao thông đường bộ trên cả nước nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng diễn ra hết sức phức tạp, gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản. Nhà nước ta thường xuyên tuyên truyền, giáo dục cũng như xử lý nghiêm những hành vi vi phạm quy định của Luật Giao thông đường bộ, nhưng tai nạn giao thông vẫn thường xuyên xảy ra, nguyên nhân chủ yếu là do sự thiếu ý thức chấp hành các quy định về an toàn giao thông đường bộ của một bộ phận những người tham gia giao thông.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mặc dù bị cáo đã được đào tạo kỹ năng lái ô tô; được học luật giao thông đường bộ, nhưng do chủ quan, thiếu ý thức chấp hành nên đã vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, gây thiệt hại rất nghiêm trọng cho tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác, gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân mỗi khi tham gia giao thông. Bởi vậy cần xử lý nghiêm để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy:

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có thái độ khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải; đã tích cực cùng Bị đơn dân sự tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại và được người bị hại và đại diện người bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó có thể áp dụng các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Xét bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, lỗi trong vụ tai nạn giao thông này là lỗi vô ý, do đó thấy không cần thiết bắt bị cáo phải tập trung cải tạo mà có thể cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương với thời gian thử thách nhất định cũng có thể cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo điều khiển xe ô tô gây tai nạn với hậu quả nghiêm trọng, do đó cần phải áp dụng hình phạt bổ sung cấm bị cáo điều khiển xe ô tô một thời gian theo quy định tại khoản 5 Điều 260 - Bộ luật hình sự để tăng cường tính răn đe, giáo dục chung.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo và Bị đơn dân sự đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho những người bị hại, cụ thể như sau: Bồi thường cho gia đình chị Nguyễn Thị Bình G 250.000.000đ (Hai trăm năm mươi triệu đồng); bồi thường cho bà Đinh Thị T1 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng); bồi thường cho gia đình cháu Trần Phạm Phương T3 10.000.000đ (Mười triệu đồng); bồi thường cho bà Hoàng Thị Kim L 5.000.000đ (Năm triệu đồng); bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thanh H và bà Dương Thị H1 5.000.000đ (Năm triệu đồng); bồi thường cho chị Nguyễn Thị T và anh Ngô Minh T2 mỗi người 2.000.000đ (Hai triệu đồng); bồi thường cho anh Lê Hồng M toàn bộ tiền sửa chữa xe ôtô và thu nhập bị mất do tai nạn là 260.000.000đ (Hai trăm sáu mươi triệu đồng) (Bút lục số 92-97c).

Đối với những người bị hại gồm bà Hoàng Thị Kim L, bà Đinh Thị T1, chị Nguyễn Thị T, chị Nguyễn Thị Thanh H, bà Dương Thị H1, anh Ngô Minh T2; cháu Nguyễn Hà S và cháu Trần Phạm Phương T3 chỉ bị thương nhẹ, quá trình điều tra từ chối đi giám định thương tích, đã được giải quyết về mặt dân sự và không có yêu cầu bồi thường thêm nên không xét.

[8] Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe ôtô đầu kéo biển kiểm soát 15C-175.16, rơ moóc biển kiểm soát 15R-096.99 chở thùng container và xe ôtô khách biển kiểm soát 14B-021.97 và các giấy tờ kèm theo, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu nên không đề cập nữa;

Đối với Giấy phép lái xe số 310166844315 mang tên Trịnh Minh P là giấy tờ tùy thân, cần trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Minh P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Áp dụng: điểm a, d khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

+ Xử phạt bị cáo Trịnh Minh P 21 (Hai mươi mốt) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 42 (Bốn mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/11/2018).

Giao Trịnh Minh P cho Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, Trịnh Minh P cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp Trịnh Minh P thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

+ Cấm Trịnh Minh P điều khiển xe ô tô trong thời hạn 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

- Áp dụng Điều 106 - Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho Trịnh Minh P giấy phép lái xe số 310166844315, nhưng tạm giữ lại cho đến khi chấp hành xong hình phạt “Cấm điều khiển xe ô tô” (Giấy phép này hiện đang lưu tại hồ sơ vụ án).

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 - Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí toà án:

Buộc bị cáo Trịnh Minh P phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;

Án xử sơ thẩm công khai, có mặt bị cáo Trịnh Minh P và người bị hại Đinh Thị T1, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Những người bị hại, đại diện hợp pháp của người bị hại và đại diện hợp pháp của Bị đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ