- Tranh chấp gì? án hình sự — "143.Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999) - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 143 Bộ luậ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 143 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƢỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 18/2018/HSST Ngày: 27 - 3 - 2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƢỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Việt Thành
2. Ông Phạm Xuân Đính
-Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Vi – Thư ký Toà án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Thân Văn Chẻo – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2018 tại Toà án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2018/HSST ngày 09 tháng 02 năm 2018, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2018/HSST-QĐ ngày 16/3/2018 đối với bị cáo:
LÊ VĂN T, sinh năm 1980 tại Thanh Hóa; nơi cư trú: tổ A, ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 1/12; dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; con ông Cao Văn Th (chết) và bà Lê Thị Tr; vợ Nguyễn Thị S (đã ly hôn), con có 01 người sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/12/2017 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Ngƣời bị hại: Lê Thị X, sinh năm 1960; Nơi cư trú: tổ A, ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 30/11/2017, do bực tức bị gia đình nhà chị Lê Thị H nghi ngờ Lê Văn T lấy trộm số tiền 19.500.000 đồng nên Lê Văn T nảy sinh ý định đến vườn ươm Stump cao su giống của bà Lê Thị X là mẹ ruột chị H tại ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Bình Phước để phá hoại. T đi bộ từ nhà theo đường bê tông liên tổ rồi đi đến vườn ươm Stump bầu cao su giống của bà X, T dùng tay bẽ gãy nhiều cây Stum bầu cao su giống rồi đi bộ về nhà ngủ. Sáng ngày 01/12/2017 gia đình bà X phát hiện vườn ươm Stump bầu cao su giống của gia đình bị bẻ gãy nên trình báo công an xã T.
Qua truy xét Cơ quan điều tra đưa Lê Văn T đến trụ sở làm việc thì T khai nhận rõ hành vi bẽ gãy nhiều cây Stump bầu cao su giống của bà Lê Thị X
Qua kết quả khám nghiệm hiện trường xác định vườn cao su giống của bà Lê Thị X có tổng 1.303 cây Stump bầu cao su giống bị Lê Văn T bẻ gãy ngang thân.
Tại Kết luận định giá tài sản số 117/KL-HĐĐGTS ngày 06 tháng 12 năm 2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Chơn Thành, kết luận:
- 1.303 cây Stump cao su giống 04 tháng tuổi bị bẻ gãy thân cây. Giá trị tài sản tại thời điểm bị bẻ gãy thân cây là 5.212.000 đồng;
Vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Bản cáo trạng số 20/Ctr-VKS ngày 09/02/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác trong vụ án. Bị cáo đã đầu thú và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Hủy hoại tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo mức án từ 06 đến 08 tháng tù.
Ý kiến của bị cáo: đồng ý về tội danh, điều luật mà đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị áp dụng với bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của mình sai trái và rất hối hận. Bị cáo kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Người bị hại Lê Thị X có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của người bị hại không trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ vào khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với biên bản người phạm tội ra đầu thú cũng như phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận:
Khoảng 23 giờ ngày 30/11/2017 Lê Văn T đến vườn ươm Stump cao su giống của bà Lê Thị X tại ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Bình Phước, tỉnh Bình Phước và dùng tay bẻ gãy 1.303 Stump bầu cao su giống của bà X. Tổng trị giá thiệt hại 1.303 Stum bầu cao su giống là 5.212.000 đồng. Hành vi dùng tay bẻ gãy 1.303 Stum bầu cao su giống của bà X do bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo phạm tội “Hủy hoại tài sản” là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Do bị cáo đã từng bị kết án, đã được xóa án tích nên xem như bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ “ phạm tội lần đầu đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, bị cáo chỉ được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tình Bình Phước là có căn cứ, phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 143 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Lê Thị X không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 ; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sữa đổi, bổ sung năm 2017;
1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
2. Xử phạt bị cáo Lê Văn T 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/12/2017.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước - VKSND huyện Chơn Thành; - CCTHADS huyện Chơn Thành; - CA huyện Chơn Thành; - UBND nơi cư trú của bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu. HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Việt Thành – Phạm Xuân Đính | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Thanh Thảo THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thanh Thảo |