vanban.org

Bản án 18/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 07/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Ngô Hồng S 12 (mười hai) tháng tù.

Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,22 gam Heroine còn lại sau giám định được tái niêm phong theo quy định bằng bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu g… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Hồng Sơn tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Ngô Hồng S 12 (mười hai) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LÀO CAI
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2018/HS-ST
Ngày 07/03/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Vũ Thị Hòa;

Ông Lục Văn Vãn

Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 03 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai (Đường B2, phường Bắc Cường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2018/TLST- HS ngày 02 tháng 02 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/QĐXXST- HS ngày 23 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo:

Ngô Hồng S- Sinh ngày 10/10/1984 tại Lào Cai; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 9/12.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 7A, thị trấn Ph, huyện B, tỉnh L.

Con ông Ngô Văn Ch ; sinh năm: 1944 ( đã chết.)

Con bà: Phạm Thị O; sinh năm 1946. Hiện ở: Tổ 7A, thị trấn Ph, huyện B, tỉnh L.

Tiền án: Không; Tiền sự: không

bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/12/2017. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Anh Trần Đức Thanh (sinh năm 1956, trú tại Tổ 17, phường Kim Tân, thành phố Lào Cai) “Vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 06 giờ 45 phút ngày 05/12/2017 Tổ công tác Công an phường Kim Tân làm nhiệm vụ tại khu vực Tổ 02, phường Kim Tân, thành phố Lào Cai phát hiện đối tượng Ngô Hồng Scó biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã đưa Ngô Hồng Svề Công an phường Kim Tân và mời Trần Đức Thanh (sinh năm 1956, trú tại Tổ 17, phường Kim Tân, thành phố Lào Cai) là người chứng kiến. Tiến hành kiểm tra Ngô Hồng Skhai nhận đang tàng trữ trái phép chất ma túy và tự giác lấy từ trong túi quần dài bên phải đang mặc trên người ra 04 bốn) gói giấy bạc màu trắng, bên trong đều chứa chất bột khô, vón cục màu trắng giao nộp cho Tổ công tác và khai nhận là các gói Heroine mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.

Ngày 05/12/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai đã ra quyết định số 20 gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai trưng cầu giám định ma túy và gửi số vật chứng đã thu giữ của Ngô Hồng Sđi giám định. Tại biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định lập ngày 05/12/2017 xác định niêm phong còn nguyên vẹn, đúng quy định. Tổng trọng lượng (khối lượng) của số chất bột khô, màu trắng, vón cục này là 0,27 (không phẩy hai bảy) gam. Tiến hành trích mẫu 0,05 (không phẩy không năm) gam từ 0,27 (không phẩy hai bảy) gam chất bột khô, màu trắng, vón cục để giám định. Còn lại 0,22 (không phẩy hai mươi hai) gam chất bột khô, màu trắng, vón cục cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong, hoàn lại cơ quan trưng cầu.

Tại kết luận giám định số 06/GĐMT, ngày 07/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 0,27 (không phẩy hai mươi bảy) gam chất bột khô, màu trắng, vón cục gửi giám định là loại chất ma túy Heroine (Hêrôin). Heroine (Hêrôin) thuộc Danh mục I, số thứ tự 20, Nghị định số 82/2013/NĐ-CP, ngày 19/7/2013 của Chính phủ .

Cáo trạng số 11/KSĐT ngày 02/02/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Ngô Hồng Svề tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên tại Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) nhẹ hơn so với khung hình phạt theo quy định tại Khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội và Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 về thực hiện các quy định có lợi cho người phạm tội.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ngô Hồng Sphạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1; khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng 01(một) năm 06 ( sáu ) tháng tù.

Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự xử lý theo quy định của pháp luật.

Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo không có tài sản gì; Tuyên án phí và quyền kháng cáo đối với bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Ngô Hồng Sơn: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, tang vật thu giữ và kết luận giám định. Vào khoảng 04 giờ 30 phút, ngày 05/12/2017, bị cáo Ngô Hồng Sđi bộ một mình từ Kim Tân, thành phố Lào Cai đến khu vực gần cây xăng Bắc Cường, thuộc Quốc lộ 4 E, phường Bắc Cường, thành phố Lào Cai, mục đích mua Hêrôin về để sử dụng. Tại đây Ngô Hồng Sgặp và mua của một người phụ nữ không quen biết (không rõ họ tên, địa chỉ) 04 (bốn) gói Hêrôin với giá 200.000 đ (Hai trăm nghìn) đồng. Sau khi mua xong, Ngô Hồng Scầm rồi cất vào túi quần bên phải đang mặc trên người sau đó đi về khu vực tổ 02 phường Kim Tân, thành phố Lào Cai tìm nơi để sử dụng thì bị kiểm tra, bắt giữ cùng tang vật. Từ các phân tích trên và lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội. Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Ngô Hồng Sđã đủ yếu tố cấu thành tội “tàng trái phép chất ma túy” Tội phạm được quy định tại khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ.

Như vậy các quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 BLHS 2015 đây là điều khoản có lợi cho bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu năm 2008, 2011 bị Tòa án đưa ra xét xử về tội “ trộm cắp tài sản” và “tàng trữ trái phép chất ma túy” đến nay được xóa án tích. Năm 2009, bị cáo được đưa cai nghiên bắt buộc tại Trung tâm Giáo dục- Lao động- xã Hội tỉnh Lào Cai đến 25/8/2010 chấp hành xong. Do vậy hội đồng xét xử cần phải áp dụng một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có thể giáo dục bị cáo trở thành con người sống có ích cho xã hội đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Bố bị cáo được nhà nước tặng thưởng huân chương Lao động, nên cần áp dụng điểm s khoản 1; khoản điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy đinh “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa bị cáo là người lao động tự do, không có việc làm ổn định nên không có thu nhập gì. Vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ 0,27 (không phẩy hai mươi bảy) gam chất bột khô, màu trắng, vón cục trích mẫu 0,05 gam để giám định. Còn lại 0,22 (không phẩy hai mươi hai) gam bột khô, vón cục, màu trắng đã được tái niêm phong theo quy định. Xét thấy đây thuộc danh mục các chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự là phù hợp.

Về nguồn gốc số heroine: Bị cáo khai nhận mua của người phụ nữ không quen biết tên tuổi, địa chỉ tại khu vực tổ 03, phường Bắc Cường, thành phố Lào Cai. Ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu nào chứng minh làm rõ người phụ nữ đó bán ma túy cho bị cáo nên không xác định được đối tượng để xử lý trong vụ án này.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 136 khoản 2 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1; khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuyên bố bị cáo Ngô Hồng Sphạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Ngô Hồng S 12 (mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giữ, tạm giam: ngày 05/12/2017.

Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 0,22 gam Heroine còn lại sau giám định được tái niêm phong theo quy định bằng bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ Ngô Hồng Sngày 05/12/2017 tại Tổ 02, phường Kim Tân, thành phố Lào Cai”

Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Ngô Hồng Sphải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ