- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Lương T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Lương T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2018/HS-ST Ngày: 24/5/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
-----------------------------------------------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Trường Giang
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Huy Điệu – Bí thư chi bộ khu 4 thị trấn Ninh Giang
2. Bà Phạm Thị Tuẫn – Chủ tịch Hội người cao tuổi xã Hồng Thái
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Loan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở TAND huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2018/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2018/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:
LÊ LƯƠNG T – SN 1989 tại Hải Dương; nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Lương T và NLC3; có vợ là Phạm Thị H (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 46/2011/HSST ngày 16/9/2011 của TAND huyện Quỳnh Phụ xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/02/2018, đến ngày 09/02/2018 chuyển tạm giam tại trại giam Kim Chi, Công an tỉnh Hải Dương; có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
+ NLC1 – SN 1957 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khu 2, thị trấn N, huyện N, Hải Dương
+ NLC2 – SN 1964 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khu 2, thị trấn N, huyện N, Hải Dương
+ NLC3 – SN 1958 (có mặt)
Nơi cư trú: Thôn M, Xã H, huyện N, Hải Dương
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 07/02/2018, tại khu vực bến phà C thuộc khu 2, thị trấn N, huyện N tổ công tác Công an huyện Ninh Giang phát hiện Lê Lương T có biểu hiện nghi vấn, nên đã tiến hành kiểm tra, thu giữ trong lòng bàn tay trái của Tuân 01 gói quấn băng dính màu đen, bên trong có 03 đoạn ống nhựa, dạng ống mút, màu trắng, gắn kín hai đầu, kích thước khoảng 0,5cm x 1cm, bên trong chứa chất bột, dạng cục, màu trắng. Tuân khai là heroin, mục đích mua về để sử dụng. Công an huyện Ninh Giang đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ ma túy và chiếc xe đạp.
Quá trình điều tra, Lê Lương T khai nhận: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 07/02/2018, Tuân đạp xe đến khu vực bến phà C thuộc khu 2, thị trấn N, huyện N mua heroin của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ với giá 300.000đ. Sau khi ma túy, Tuân chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang.
Tại kết luận giám định số 196/KLGĐ-PC54 ngày 08/02/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất bột, dạng cục, màu trắng, thu giữ của Lê Lương T gửi đến giám định là heroin, trọng lượng 0,219 gam.
Tại bản Cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 24/4/2018, VKSND huyện Ninh Giang truy tố Lê Lương T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện VKSND huyện Ninh Giang giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS 2015. Xử phạt Lê Lương T từ 13 đến 16 tháng tù; về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS. Tịch thu cho tiêu huỷ 01 phong bì dán kín niêm phong; buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chính lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 07/02/2018, tại khu vực bến phà C thuộc khu 2, thị trấn N, huyện N, Lê Lương T có hành vi cất giấu trong người 0,219 gam heroin, nhằm mục đích sử dụng.
Xét thấy, Lê Lương T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Nhận thức rõ việc cất giấu trái phép heroin là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, đồng thời xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, Lê Lương T phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên toà hôm nay, đại diện VKS huyện Ninh Giang thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo là có cơ sở, đúng pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, Lê Lương T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. HĐXX sẽ cân nhắc, áp dụng để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật.
Đánh giá về nhân thân Lê Lương T, HĐXX thấy rằng: Tại bản án số 46/2011/HSST ngày 13/5/2002 của TAND huyện Quỳnh Phụ xử phạt bị cáo 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Mặc dù đã được xóa án tích, nhưng Tuân không lấy đây là bài học rút kinh nghiệm cho bản thân, mà lại tiếp tục phạm tội mới, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải có biện pháp xử lý nghiêm minh, bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Do Lê Lương T không có thu nhập ổn định, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Gồm 01 phong bì dán kín niêm phong, bên trong chứa ma túy là vật cấm lưu hành, cần phải tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với chiếc xe đạp mini màu đỏ là tài sản thuộc quyền sở hữu của NLC3. Xét thấy, việc Tuân mượn chiếc xe này sử dụng vào việc phạm tội, NLC3 không biết. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mini màu đỏ cho chủ sở hữu là phù hợp quy định pháp luật, nên HĐXX không đặt ra xem xét.
Trong vụ án này, Lê Lương T khai mua ma túy của một người, không rõ tên, tuổi, địa chỉ, nên không có căn cứ xử lý.
Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định của pháp luật.
Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định pháp luật, nên được coi là hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS.
Tuyên bố bị cáo Lê Lương T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
2. Về hình phạt chính: Xử phạt Lê Lương T 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày 07 tháng 02 năm 2018.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì dán kín niêm phong có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ninh Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Giang.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc Lê Lương T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 BLTTHS.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Ninh Giang; - Công an huyện Ninh Giang; - Chi cục THA dân sự huyện Ninh Giang; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Trại giam Kim Chi Công an tỉnh Hải Dương; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đỗ Trường Giang |