- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lục Cao T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lục Cao T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2018/HS-ST Ngày 11-7-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vy Ngọc Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Văn Đạo.
Bà Nông Thị Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Hiệt, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Mai Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2018/TLST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2018/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
Lục Cao T (Tên gọi khác: Không có), sinh năm 1960 tại xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
Nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 7/10; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lục Văn T (đã chết) và bà Nông Thị D (đã chết); có vợ thứ nhất Nguyễn Thị T, sinh năm 1965 (đã ly hôn) và 02 người con, con lớn sinh năm 1987, con nhỏ sinh năm 1989; vợ thứ hai Dương Thị D (đã chết) và 03 người con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2006; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 14 tháng 10 năm 2017 có hành vi đánh bạc bị Ủy ban nhân dân xã V, huyện B ra Quyết định xử phạt hành chính số 110/QĐ-XPHC ngày 22 tháng 11 năm 2017; nhân thân: Ngày 04 tháng 3 năm 1997 bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 18 tháng tù giam về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tại bản án số 02/BA-HS ngày 04/3/1997; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14 tháng 3 năm 2018 đến nay. Có mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Phạm Bá T, sinh năm 1957.
Nơi cư trú: Thôn M, xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
Vắng mặt.
2. Ông Vũ Văn Q, sinh năm 1961.
Nơi cư trú: Thôn M, xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 17 phút ngày 14 tháng 3 năm 2018 tổ công tác Công an huyện B phối hợp với Ban công an xã V, huyện B đang làm nhiệm vụ tại khu vực thôn M, xã V, huyện B. Đã kiểm tra đối tượng nghi vấn, phát hiện và bắt quả tang đối tượng Lục Cao T, thu giữ trên người trong túi áo bên trái có 01 (một) gói nhỏ được bọc bằng giấy ni lon, bên trong có chứa chất bột màu trắng, nghi là chất ma túy Hêrôin. Lục Cao T khai đó là chất ma túy Hêrôin vừa mua ở Thái Nguyên về, với giá 1.000.000 đồng. Tổ công tác Công an huyện B đã tiến hành lập biên bản niêm phong vật chứng, đồng thời đưa người và vật chứng về Công an huyện để tiến hành điều tra làm rõ.
Tại cơ quan điều tra Lục Cao T khai nhận: Bản thân nghiện thuốc phiện từ năm 1990; đến năm 1998 thì chuyển sang sử dụng chất ma túy Hêrôin bằng hình thức hút, chích vào cơ thể cho đến nay. Để có ma túy sử dụng Lục Cao T thường xuyên xuống khu vực xã L, huyện V và khu vực bến xe của tỉnh Thái Nguyên, để mua ma túy với những đối tượng nghiện không quen biết đem về cất giấu sử dụng. Khoảng 8 giờ sáng ngày 14 tháng 3 năm 2018 Lục Cao T một mình từ nhà ra đường quốc lộ, đón xe ô tô khách đi xuống bến xe khách Thái Nguyên, Lục Cao T tìm gặp được một người đàn ông khoảng 45 tuổi không quen biết tên, tuổi, địa chỉ. Lục Cao T đã hỏi mua ma túy với người này và thỏa thuận mua 1.000.000 (một triệu đồng) tiền ma túy, người này đã bán cho Lục Cao T 01 gói ni lon nhỏ bên trong có chất ma túy, sau khi mua được ma túy Lục Cao T đón xe ô tô khách đi về nhà, trên đường về đến khu vực ngã ba Bản Ít, thuộc thôn M, xã V, huyện B, thì bị kiểm tra bắt quả tang như đã nêu ở trên.
Với số ma túy được thu giữ quả tang của Lục Cao T, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 18/QĐ-CQCSĐT ngày 15 tháng 3 năm 2018. Tại kết luận giám định số 125/KL-PC54 ngày 16 tháng 3 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn, kết luận: Chất bột màu trắng đựng trong phong bì thư ghi “ Vật chứng thu giữ của “ Lục Cao T” gửi giám định đều là chất ma túy Hê rô in, có khối lượng 3,820 gam (đã trừ bì).
Ngày 17 tháng 3 năm 2018, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự; khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam đối với Lục Cao T, để tiến hành điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.
Cáo trạng số: 15/CT-VKS ngày 11 tháng 6 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn để xét xử bị cáo Lục Cao T có hành vi nêu trên phạm tội, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
2
Tại phiên tòa, bị cáo Lục Cao T khai nhận, bản thân nghiện ma túy từ lâu, nên ngày 14 tháng 3 năm 2018 có hành vi mua trái phép chất ma túy; mục đích đem về để sử dụng cho bản thân và bị bắt quả tang, như Cáo trạng truy tố ra trước Tòa là đúng; Công an huyện B bắt quả tang và quyết định bắt giam, khởi tố là đúng. Cáo trạng truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 quy kết với hành vi phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng, không oan. Đề nghị các cơ quan pháp luật xem xét cho bị cáo, vì bản thân nghiện ma túy, mới có hành vi phạm tội.
Tại phiên tòa, phát biểu luận tội của Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xét xử bị cáo Lục Cao T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, đúng như Cáo trạng đã truy tố. Do vậy có đủ căn cứ quy kết bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, với các tình tiết định khung là “ Hêrôin có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”. Về nhân thân bị cáo có đủ năng lực hành vi; có một tiền án và một tiền sự, ngoài tình tiết tăng nặng định khung, bị cáo không có tình tiết tặng nặng khác; tình tiết xem xét giảm nhẹ theo Điều 51 của Bộ luật hình sự cho các bị cáo là “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; về nhân thân là nhân thân xấu. Do vậy đề nghị xử bị cáo Lục Cao T mức án từ 03 đến 04 năm tù giam. Về xử lý vật chứng trong vụ án, đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong chất ma túy vật chứng vụ án. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, vì hoàn cảnh gia đình bị cáo éo le, khó khăn, vợ chết, một mình nuôi 03 người con, là người nghiện, không có tài sản, thu nhập riêng.
Sau khi các bên không còn ý kiến tranh luận; bị cáo nói lời sau cùng, đề đạt nguyện vọng xin pháp luật xem xét giảm nhẹ cho bị cáo, để sớm được trở về với gia đình để chăm sóc con cái.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, tỉnh Lạng Sơn, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo xuất trình tài liệu, chứng cứ theo quy định của pháp luật; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
3
Về việc xét xử vắng mặt người làm chứng được Tòa án nhân dân huyện B triệu tập đến phiên tòa. Xét thấy bị cáo có yêu cầu xử vắng mặt những người này; mặt khác những người này chỉ chứng kiến việc Công an bắt quả tang hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo; bị cáo cũng đã thừa nhận hành vi phạm tội, họ cũng đã có bản khai xác nhận sự việc chứng kiến. Việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, do đó căn cứ khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng.
Về nội dung vụ án: Khoảng 8 giờ sáng ngày 14 tháng 3 năm 2018 Lục Cao T một mình từ nhà ra đường quốc lộ, đón xe ô tô khách đi xuống bến xe khách Thái Nguyên, Lục Cao T tìm gặp được một người đàn ông khoảng 45 tuổi không quen biết tên, tuổi, địa chỉ. Lục Cao T đã hỏi mua ma túy với người này và thỏa thuận mua 1.000.000 đồng (một triệu đồng) tiền ma túy, người này đã bán cho Lục Cao T 01 (một) gói ni lon nhỏ bên trong có chất ma túy, sau khi mua được ma túy Lục Cao T đón xe ô tô khách đi về nhà, trên đường về đến khu vực ngã ba B, thuộc thôn M, xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn thì bị kiểm tra bắt quả tang.
Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang của Công an huyện B, tỉnh Lạng Sơn; phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và kết quả giám định vật chứng thu giữ của bị cáo, đó là chất ma túy Hê rô in, có tổng trọng lượng 3,820 gam đã trừ bì. Do đó có căn cứ xác định bị cáo Lục Cao T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng hành vi bị cáo thực hiện đi mua ma túy về tàng trữ nhằm để sử dụng cho mục đích cá nhân, là hành vi nguy hiểm và nghiêm trọng. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy, mọi hành vi tàng trữ, sử dụng, sản xuất, mua bán đều vi phạm pháp luật. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là cất giữ trên người, đang từ nơi mua, để đem về nhà của bị cáo; thời gian cất giữ dài hay ngắn không có ý nghĩa xác định người phạm tội có tàng trữ trái phép chất ma túy hay không. Hành vi của bị cáo thực hiện là cố ý, tính nghiêm trọng của hành vi là chất ma túy được bị cáo tàng trữ có khối lượng 3,820 gam ma túy Hêrôin. Hành vi phạm tội của bị cáo là coi thường pháp luật, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội; chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú, có văn bản báo cáo, đề xuất Công an huyện B, tỉnh Lạng Sơn có biện pháp đấu tranh, xử lý đối với Lục Cao T; hành vi của bị cáo còn gây cản trở đường lối, chủ trương của Nhà nước trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm về ma túy, để sớm loại bỏ ma túy ra khỏi đời sống xã hội;
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo; hoàn cảnh gia đình bị cáo rất éo le, kinh tế khó khăn, vợ đã chết một mình nuôi 03 người con chưa đến tuổi trưởng thành; tài sản không có. Do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
4
sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015
Về tình tiết tăng nặng: Ngoài tình tiết định khung tăng nặng, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự khác.
Về nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo đã có một lần bị Tòa án kết án vào năm 1997, về tội Tổ chức dùng chất ma túy và bị xử phạt 18 tháng tù giam. Bị cáo đã chấp hành xong, đương nhiên được xóa án tích; ngày 14 tháng 10 năm 2017 bị cáo có hành vi đánh bạc, bị Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, như vậy về nhân thân là nhân thân xấu. Mặc dù nhận thức được hành vi là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện, điều đó thể hiện bị cáo coi thường pháp luật.
Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân bị cáo. Hội đồng xét xử sẽ quyết định mức hình phạt tương xứng, phù hợp, bảo đảm tính giáo dục chung và có tác dụng đấu tranh, răn đe, phòng ngừa tội phạm nói riêng.
Về hình phạt bổ sung quy định trong luật, tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự “ Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Nhưng xét thấy bị cáo là người nghiện chất ma túy, hoàn cảnh gia đình nghèo không có tài sản và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc hình thức khác.
Về xử lý vật chứng trong vụ án: Xét thấy vật chứng là chất ma túy đã được giám định, niêm phong, không có giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
Căn cứ theo Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Lục Cao T phải chịu 200.000 đồng sung nhân sách Nhà nước.
Căn cứ theo Điều 331 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Căn cứ vào điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 262; Điều 331 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1.Tuyên bố: Bị cáo Lục Cao T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
5
2. Xử phạt: Bị cáo Lục Cao T 03 (ba) năm tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 14/3/2018.
3. Xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong ghi “Vật chứng thu giữ của Lục Cao T” có chữ ký và con dấu ở phần giáp lai của phong bì thư, bên trong có 3,797 gam Hê rô in.
Những vật chứng, tài sản trên được ghi theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra Công an huyện B với Chi cục thi hành án dân sự huyện B ngày 16 tháng 5 năm 2018.
4. Về án phí: Bị cáo Lục Cao T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, để sung ngân sách nhà nước
5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - Sở tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện B, tỉnh Lạng Sơn; - Công an huyện B, tỉnh Lạng Sơn; - CCTHADS huyện B, tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; - Lưu: Toà; hồ sơ vụ án. 6 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vy Ngọc Linh |