vanban.org

Bản án 18/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 26/01/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/01/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trang Hữu S. Sửa phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm.

Tuyên bố: Bị cáo Trang Hữu S (S1) phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Trang Hữu S 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/7/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trang Văn S - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trang Hữu S. Sửa phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2018/HS-PT
Ngày: 26-01-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử ph c thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Trần Trung Thành

Các Thẩm phán:

Ông T Phú Đ ng

Bà Nguy n Thị Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguy n Hoàng Thanh Trúc – Thư ký T a án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguy n Kim Hóa - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 01 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 376/2017/TLPT-HS ngày 26 tháng 12 năm 2017 đối với bị cáo Trang Hữu S do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 52/2017/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2017 của T a án nhân dân huyện M.

- cáo có kháng cáo:

Trang Hữu S (S1), sinh năm 1981; HKTT: Ấp 1, xã MH, huyện M, Đồng Tháp và chỗ ở: Ấp 2, xã MH, huyện M, Đồng Tháp; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 08/12; con ng Trang Văn Kh và bà Phạm Thị Kim Ch; có vợ và 01 con; tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 13/3/2007, bị Tòa án nhân dân huyện M xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Tạm giữ ngày 22/7/2017; Tạm giam ngày 25/7/2017;

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp (Có mặt).

Ngoài ra, trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng ngh .

NỘI NG V N:

Theo các tài iệu có trong hồ sơ vụ án và di n i n tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Vào khoảng 12 giờ ngày 22/7/2017, khi Hữu S đang ở nhà (địa chỉ Đường H2, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh) thì đối tượng Lê Thanh S (quen biết với Hữu S do gần nhà ở ấp 1, xã MH, huyện M) đến nhà gặp Hữu S thuê vận chuyển ma túy về để cặp vách nhà của Thanh S (địa chỉ ấp 1, xã MH, huyện M), khi nào đến nơi thì gọi điện thoại cho Thanh S biết để kêu người tên T đến lấy ma túy, tiền công vận chuyển là 1.000.000 đồng, nghe vậy Hữu S đồng ý.

Khi đến khoảng 13 giờ, Thanh S điện thoại hẹn Hữu S ra quán cà phê (không nhớ tên quán) ở quận B, thành phố Hồ Chí Minh để giao ma túy, khi đến quán Thanh S đưa cho Hữu S một bao thuốc lá hiệu Jet màu trắng bên trong có chứa một gói ma túy, Hữu S nhận xong bỏ vào túi áo mưa bên phải đang mặc trên người và điều khiển xe m t Wave màu tím đen nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 72F8- 515x để vận chuyển ma túy về địa bàn huyện M. Đến khoảng 16 giờ 30 phút, khi Hữu S đang điều khiển xe trên đoạn đường kênh B-G (địa chỉ ấp 3, xã Đ, huyện M), thì bị lực lượng Công an huyện M bắt quả tang về hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy.

Về vật chứng:

- Tang vật thu giữ gồm:

+ 01 (một) bịch nylon màu trắng có kẹp một đầu, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng (nghi là ma túy) được thu trong gói thuốc lá hiệu Jet được niêm phong kí hiệu A1.

- Kiểm tra trên người Hữu S thu giữ:

+ Tiền Việt Nam: 310.000 đồng.

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 4 màu trắng- bạc.

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia RM-1011 màu đen.

+ 01 (một) giấy phép lái xe và 01 (một) giấy chứng minh nhân dân tên Trang Hữu S.

+ 01 (một) giấy đăng ký xe m t biển kiểm soát 66M1- 013.2x mang tên Trang Hữu X.

+ 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 72F8- 515x màu tím đen nhãn hiệu Honda.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện M còn tạm giữ của chị Phạm Ngọc D chủ cửa hàng cầm cố tài sản Ngọc D (địa chỉ ấp 2, xã MH, huyện M): 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen biển kiểm soát 66M1- 244.1x; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Damsel màu nâu, không biển kiểm soát; 02 (hai) giấy đăng ký xe tên Lê Hoàng M và Nguy n Thị Phương L. Các tài sản này do chị D nhận cầm cố của Hữu S. Quá trình điều tra, xét thấy kh ng liên quan đến vụ án, nên đã trả lại cho chị D những tài sản này.

Tại Bản Kết luận giám định số 476 ngày 24/7/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận: Tinh thể rắn chứa trong một bịch nylon có nắp kẹp kín, được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1 là chất ma túy có trọng lượng (khối lượng) 9,9051 gam, loại Methamphetamine.

Xe mô tô biển kiểm soát 72F8-515x loại Wave màu tím đen, nhãn hiệu Honda là của anh Trang Văn Gi (anh ruột của Hữu S). Việc Hữu S lấy xe của anh Gi làm phương tiện để vận chuyển ma túy anh Gi không biết, do đó Cơ quan điều tra đã trao trả xe này lại cho anh Gi.

Đối với giấy đăng ký xe m t biển kiểm soát 66M1- 013.2x mang tên Trang Hữu X, xét thấy không liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh X.

Đối với đối tượng Lê Thanh S, sinh năm 1983; đăng ký hộ khẩu thường trú ấp 1, xã MH, huyện M, hiện nay đã bỏ đi khỏi địa phương Cơ quan điều tra không làm việc được, nên tách ra khỏi vụ án này, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

Tại bản án số 52/2017/HSST ngày 22/11/2017 của T a án nhân dân huyện M đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Trang Hữu S (S1) đã phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trang Hữu S 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 22/7/2017.

Ngoài ra, án sơ thẩm c n tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 23 tháng 11 năm 2017, bị cáo Trang Hữu S (S1) có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên t a, đại diện Viện kiểm sát Tỉnh phát biểu quan điểm: T a án cấp sơ thẩm quy kết bị cáo Trang Hữu S phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Xét mức án 05 năm tù là có phần nghiêm khắc. Ngoài ra, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ mới nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trang Hữu S. Sửa phần Quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo, giảm cho bị cáo từ 03 đến 06 tháng tù.

NH N ĐỊNH ỦA T A N:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trang Hữu S đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Bị cáo và Lê Thanh S quen biết nhau do ở cùng quê thuộc ấp 1, xã MH, huyện M. Vào khoảng 12 giờ, ngày 22/7/2017 khi bị cáo đang ở nhà tại đường H2, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh thì Lê Thanh S đến nhờ bị cáo chuyển ma túy về huyện M, tiền công vận chuyển là 1.000.000 đồng, bị cáo nhận lời. Sau đó, Lê Thanh S điện thoại hẹn bị cáo ra quán cà phê và đưa cho bị cáo 01 vỏ gói thuốc Jet bên trong có một bịch nylong hàn kín chứa một chất màu trắng bên trong. Sau khi nhận vỏ gói thuốc Jet trên, bị cáo điều khiển xe về xã MH, huyện M khi đi đến đoạn đường kênh B-G thuộc ấp 3, xã Đ thì bị Công an bắt quả tang. Theo Bản Kết luận giám định số 476 ngày 24/7/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận: Tinh thể rắn chứa trong một bịch nylon có nắp kẹp kín, được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1 là chất ma túy có trọng lượng (khối lượng) 9,9051 gam, loại Methamphetamine.

[2] T a án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bản thân bị cáo là người đã trưởng thành, bị cáo phải nhận thức được ma túy có tác hại rất xấu đến sức khỏe và sự phát triển của con người. Do đó, Nhà nước ta đã có chủ trương nghiêm cấm mua bán, vận chuyển và tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích là để bảo vệ sức khỏe con người. Việc vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật và bị nghiêm cấm. Vì vậy, đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải có mức hình phạt tương xứng, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và có tác dụng phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đến điều kiện hoàn cảnh phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy mức án 05 năm tù mà T a án cấp sơ thẩm tuyên là nghiêm khắc so với tính chất, mức độ mà hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đây được xem là tình tiết giảm nhẹ mới.

[5] Chính vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trang Hữu S, sửa quyết định của bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.

[6] Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trang Hữu S. Sửa phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm.

Tuyên bố: Bị cáo Trang Hữu S (S1) phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Xử phạt bị cáo Trang Hữu S 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/7/2017.

Về án phí: Bị cáo Trang Hữu S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ