vanban.org

Bản án 18/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 147, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.

Tuyên bố: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Võ Thị L. Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị L – sinh năm 1990 được ly hôn với ông Trần Minh H – sinh năm 1989. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Võ Thị L - Ông Trần Minh H"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 147, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LIÊN CHIỂU – TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 05 tháng 6 năm 2018
V/v “ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU- THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Văn Sỹ

2. Ông Nguyễn Công Chi

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thái Trâm Anh – Thư ký Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ái Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2018 tại Hội trường xét xử, Toà án nhân dân quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 27/2018/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2018 về tranh chấp “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2018/QĐXXST- HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2018; Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2018/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 05 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị L – Sinh năm 1990. (có mặt)

- Bị đơn: Ông Trần Minh H – sinh năm 1989. (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Kiệt 109/H64/7 Phạm Như X, tổ 31, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà, nguyên đơn là bà Võ Thị L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Trần Minh H kết hôn với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại kiệt 109/H64/7 Phạm Như X, tổ 31, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng .

Trong thời gian chung sống vợ chồng tôi phát sinh nhiều nhiều mâu thuẩn vào năm 2017, nguyên nhân là do ông H có quan hệ ngoại tình với người khác nên vợ chồng tôi thường xuyên cãi nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng chung sống không hạnh phúc, không có tiếng nói chung. Hiện nay tôi không còn tình cảm với ông H, mâu thuẫn của vợ chồng đã quá trầm trọng không thể hàn gắn được nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Trần Minh H.

- Về quan hệ con chung: Tôi xác nhận có 02 con chung tên là Trần Minh Th - sinh ngày: 26.8.2011 và Trần Minh Th – Sinh ngày 31.12.2013 . Ly hôn tôi có nguyện vọng xin nuôi 02 con chung và yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 4.000.000 đồng/02 con cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung và nợ chung: không có.

* Quá trình tham gia tố tụng, bị đơn là ông Trần Minh H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi xác nhận tôi và bà Võ Thị L kết hôn vào năm 2010 có đăng ký kết hôn tại UBND phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại kiệt 109/H64/7 Phạm Như X, tổ 31, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng .

Trong quá chung sống vợ chồng không có mâu thuẫn gì chỉ là cãi vã nhau những chuyện thường ngày trong cuộc sống. Nay tôi vẫn còn tình cảm và thương yêu đối với bà L, bà L yêu cầu được ly hôn thì tôi không đồng ý, đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nuôi dạy con cái.

- Về quan hệ con chung: Tôi xác nhận có 02 con chung tên là Trần Minh Th - sinh ngày: 26.8.2011 và Trần Minh Th – Sinh ngày 31.12.2013. Trường hợp tòa án giải quyết ly hôn thì tôi xin nuôi 02 con chung và không yêu cầu bà Võ Thị L cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: không có.

* Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu:

Về thủ tục tố tụng: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn là ông Trần Minh H thực hiện chưa đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56 luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà Võ Thị L xin ly hôn đối với ông Trần Minh H.

Về quan hệ con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 81, 82 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà Võ Thị L, giao 02 con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, ông Trần Minh H không cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

* Về thủ tục tố tung:

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tranh chấp ly hôn giữa bà Võ Thị L và ông Trần Minh H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại các Điều 208; 209; 210; 211 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, đương sự không xuất trình thêm chứng cứ mới.

Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn ông Trần Minh H vắng mặt tại phiên toà không có lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

* Về nội dung tranh chấp:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị L và ông Trần Minh H có thời gian tìm hiểu và tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng vào năm 2010. Việc kết hôn giữa bà L và ông H là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, lừa dối và không trái với quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà Võ Thị L và ông Trần Minh H là hợp pháp.

Hội đồng xét xử xét thấy quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bà Võ Thị L xác nhận trong quá trình chung sống giữa hai vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn. Theo bà L thì nguyên nhân là do ông H có quan hệ ngoại tình với người khác nên vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vã, không có tiếng nói chung, vợ chồng không còn yêu thương nhau nên bà yêu cầu được ly hôn.

Quá trình giải quyết vụ án, ông H lại cho rằng giữa hai vợ chồng không phát sinh mâu thuẫn gì, chỉ là bất đồng ý kiến cãi nhau những chuyện thường ngày trong cuộc sống, ông vẫn còn tình cảm và thương yêu bà L nên không đồng ý ly hôn.

Xét mặc dù ông H xác định vẫn còn tình cảm với bà L và không đồng ý ly hôn nhưng tại phiên tòa hôm nay vắng mặt không có lý do là thể hiện thái độ thiếu thiện chí trong việc hàn gắn hôn nhân. Kết quả xác minh tại địa phương nơi cư trú của bà L, ông H cũng thể hiện nội dung ông H thường xuyên cờ bạc rượu chè, không lo làm ăn, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, cuộc sống không có hạnh phúc. Như vậy, hôn nhân giữa bà L, ông H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà Võ Thị L yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn đối với ông Trần Minh H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về quan hệ con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án bà Võ Thị L và ông Trần Minh H xác nhận có 02 con chung tên là Trần Minh Th - sinh ngày: 26.8.2011 và Trần Minh Th – Sinh ngày 31.12.2013. Ly hôn bà Võ Thị L và ông Trần Minh H đều mong muốn được nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử thấy việc giao con chung cho người trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng sau ly hôn phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Từ khi bà L và ông H mâu thuẫn cho đến nay bà L là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung cháu Trần Minh Th và Trần Minh Th, bản thân bà cũng có công việc và thu nhập ổn định. Hơn nữa, hiện nay ông Trần Minh H vắng mặt tại địa phương không có điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và các cháu cũng đang còn nhỏ, rất cần sự chăm sóc yêu thương của người mẹ. Xét thấy, việc giao 02 con chung cháu Trần Minh Th - sinh ngày: 26.8.2011 và Trần Minh Th – Sinh ngày 31.12.2013 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng sẽ đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các cháu, phù hợp với các Điều 81, 82 Luật Luật hôn nhân và gia đình nên yêu cầu được nuôi con chung của bà L được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, quá trình giải quyết vụ án bà L yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 4.000.000 đồng/02 con cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi tuy nhiên tại phiên toà hôm nay bà Võ Thị L không yêu cầu ông Trần Minh H phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các bên đương sự xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Về án phí: Bà Võ Thị L phải nộp 300.000 đồng tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 147, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Võ Thị L.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị L – sinh năm 1990 được ly hôn với ông Trần Minh H – sinh năm 1989.

2. Về quan hệ con chung: Giao 02 con chung Trần Minh Th - sinh ngày: 26.8.2011 và Trần Minh Th – Sinh ngày 31.12.2013 cho bà Võ Thị L trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Trần Minh H không cấp dưỡng nuôi con chung.

Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) bà Võ Thị L phải nộp, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0000914 ngày 18.01.2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Như vậy, bà Võ Thị L đã nộp đủ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền

kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 05.6.2018.

Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn

15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 06, 07 và 09 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ