- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung”"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị NTM, cho chị NTM được ly hôn anh NVĐ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2018/HNGĐ-ST Ngày: 17/9/2018. V/v tranh chấp hôn nhân gia đình. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thanh Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Tu.
2. Bà Đào Thị Xê.
- Thƣ ký phiên tòa: Ông Phạm Như Hoàng Hải – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hoài Đức - Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức – Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thu Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2018, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hoài Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 183/2018/TLST - HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2018 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/8/2018, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị NTM, sinh năm 1993;
HKTT: Thôn NC, xã AK, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
Có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Anh NVĐ, sinh năm 1992;
HKTT: Thôn NC, xã AK, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại Đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị NTM trình bày:
1. Về quan hệ hôn nhân:
Chị và anh NVĐ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 26/7/2012 tại Uỷ ban nhân dân xã An Khánh, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mẫu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Đ sống không có trách nhiệm với vợ con, có biểu hiện sử dụng ma túy. Năm 2013 anh Đ đi cai nghiện bắt buộc, đến năm 2015 thì được về. Sau khi về chị và gia đình đã khuyên nhủ nhưng anh Đ không thay đổi. Do mâu thuẫn trầm trọng nên chị đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ tháng 01 năm 2018 cho đến nay.
Nay chị xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng không thể hàn gắn được nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đ.
2 .Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là cháu NVNP, sinh ngày 09/12/2012 hiện đang do chị nuôi dưỡng.
Khi ly hôn chị xin nuôi con chung và không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
*Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với bị đơn là anh NVĐ nhưng anh Đ không đến làm việc, do đó Tòa án không lấy được lời khai của anh Đ.
*Tại Biên bản làm việc ngày 06/7/2018, UBND xã AK, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội cung cấp:
Anh NVĐ có hộ khẩu thường trú và đang sinh sống tại Thôn NC, xã AK, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Tình trạng hôn nhân giữa anh Đ và chị Mkhông hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức phát biểu ý kiến:
* Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của pháp luật, bị đơn cần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật.
* Ý kiến giải quyết vụ án:
Quá trình điều tra thu thập chứng cứ đã chứng minh được mâu thuẫn giữa chị Mvà anh Đ tới mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không Đ được, xét cho chị Mđược ly hôn anh Đ là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Giao chị NTM trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là NVNP, sinh ngày 09/12/2012, ghi nhận chị Mkhông yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị NTM không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung”, anh NVĐ có HKTT tại xã An Khánh, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Anh NVĐ đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa 2 lần nhưng đều vắng mặt không có lý do, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ là đúng quy định tại khoản 2, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về nội dung:
. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Chị NTM và anh NVĐ kết hôn ngày 26/7/2012 tại Uỷ ban nhân dân xã AK, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên chị Mđã về nhà mẹ đẻ sinh sống. Quá trình giải quyết vụ án, chị Mkiên quyết xin ly hôn anh Đ, Tòa án đã tiến hành triệu tập nhiều lần nhưng anh Đ đều vắng mặt không có lý do, từ chối đến Tòa án làm việc, từ chối cung cấp ý kiến của mình. Đồng thời hai vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau, không cùng chung sức xây dựng hạnh phúc gia đình. Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về tình nghĩa vợ chồng thì: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác. Như vậy hiện tại chị Mvà anh Đ đã sống ly thân và đều không thực hiện đúng nghĩa vụ vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị Mvà anh Đ đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không Đ được. Xét cho chị Mđược ly hôn anh Đ là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
. Về con chung: Chị NTM và anh NVĐ có 01 con chung là NVNP, sinh ngày 09/12/2012. Khi ly hôn chị Mxin nuôi dưỡng con chung.
Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện cháu NVNP đang do chị Mtrực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và có cuộc sống ổn định cùng chị Mai, cháu Phong còn nhỏ nên cũng cần sự chăm sóc của người mẹ. Nên xét không cần thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung để đảm bảo sự phát triển bình thường, tránh xáo trộn tâm lý không cần thiết cho cháu. Do đó, cần tiếp tục giao cháu NVNP, sinh ngày 09/12/2012 cho chị Mtrực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị NTM không yêu cầu Tòa án giải quyết.
. Về tài sản chung: Chị NTM không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
. Về án phí: Chị NTM phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào các Điều 28, 35 và Điều 40; Khoản 4 Điều 147; Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội Khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị NTM, cho chị NTM được ly hôn anh NVĐ.
2. Về con chung: Giao cháu NVNP, sinh ngày 09/12/2012 cho chị NTM trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến khi cháu Phong đủ 18 tuổi hoặc có quyết định thay đổi khác.
Anh NVĐ được quyền đi lại, thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận chị NTM không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Về tài sản chung: Ghi nhận chị NTM không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị NTM phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0008105 ngày 07 tháng 6 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Chị Mđã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND TP. Hà Nội;
- VKSND huyện Hoài Đức;
- Chi cục THADS huyện Hoài Đức;
- UBND xã An Khánh;
- Các đương sự;
- Lưu Hồ sơ vụ án.
Phạm Thanh Hải
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; - VKSND huyện Hoài Đức; - Chi cục THADS huyện Hoài Đức; - UBND xã An Thượng; - Các đương sự; - Lưu Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thanh Hải Nguyễn Hữu Huấn |