- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Việt P - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13 Về việc thi hành Bộ Luật Hình sự; Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13 Về lùi hiệu lực thi hành của Bộ…; Điều 194 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH B C GI NG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 18/2017/HSST |
TÒ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒ XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VIỆT N M HUYỆN TÂN YÊN Độc lập- Tự do- Hạnh phúc Ng y 14/7/2017 NHÂN D NH TOÀ ÁN
NHÂN DÂN H
UYỆN TÂN YÊN, TỈNH B C GI NG
Với thành phần H i đồng xét xử sơ thẩm gồm có: T ẩm p án - C ủ to p iên toà: Ông Bùi Tư Duy Các Hội t ẩm n ân dân: 1. Ông Trần Anh Dũng; 2. Ông Nguyễn Quốc Sửu T ư ký Toà án g i biên bản p iên toà: Bà Vi Thị Lan P – Thư ký, Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Đ i diện Viện kiểm sát n ân dân uyện Tân Yên t am gia p iên toà: Ông Giáp Văn Hùng - Kiểm sát viên. Ngày 14 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 25/2017/HSST ngày 02/6/2017, đối với bị cáo: Nguyễn Việt P, sinh năm 1976 Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKNKTT: thôn L, xã V, huyện P, tỉnh Thái Nguyên ; Chỗ ở : thôn P, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa : 12/12; Con ông: Nguyễn Thanh H (Đã chết) ; con bà: Nguyễn Thị Đ (Đã chết) ; Vợ: Vũ Thị T, sinh 1983 (Đã ly hôn); Bị cáo có 01 con sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: + Bản án số 40/2007/HSST ngày 26/9/2007 Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt Nguyễn Việt P 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2007. - Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/02/2017, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang. (có mặt tại phiên tòa).
NHẬN THẤY Bị cáo Nguyễn Việt P bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố về hành vi phạm tội như sau: Khoảng 12 giờ ngày 09/01/2017, Nguyễn Việt P, sinh 1976 Nơi ĐKHKTT: Xóm L 3, xã V, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Chỗ ở: thôn P, xã L, huyện T, đang ở nhà tại thôn P, xã L, huyện T thì có bạn tên là T (P không biết họ, tên đệm, năm sinh và địa chỉ của T) đến rủ P đi mua ma túy cùng sử dụng P đồng ý. T dùng xe mô tô kiểu dáng Wave, màu đỏ của mình chở P đến khu vực bờ đê xã L, huyện T thì gặp một thanh niên (P không biết tên, tuổi và địa chỉ) là đối tượng nghiện ma túy, P đưa cho người thanh niên số tiền 190.000 đồng để nhờ mua ma túy hộ. Người thanh niên cầm tiền rồi đi khoảng 10 phút sau quay lại chỗ P và đưa cho P 02 gói giấy bạc có đặc điểm mặt ngoài màu trắng bạc, mặt trong màu trắng bên trong đựng chất cục bột màu trắng. P cầm 02 gói ma túy mua được cất vào túi quần phía trước bên phải và ngồi lên xe của T để đi về nhà. Khi T chở P đi đến hiệu thuốc số 98, phố T, thị trấn N, huyện T thì T đỗ xe để P vào hiệu thuốc mua xi lanh và nước cất về sử dụng ma túy, P vừa bước chân vào đến cửa hiệu thuốc thì bị lực lượng công an huyện Tân Yên phát hiện bắt quả tang. Thấy P bị công an bắt nên T đi xe mô tô chạy thoát. Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang gồm: - 02 gói giấy bạc đều có mặt ngoài màu trắng bạc, mặt trong màu trắng bên trong đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy Heroine, thu giữ tại túi quần bò phía trước bên phải của P. Tại Kết luận giám định số 43/KL - PC54 ngày 10/01/2017, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang có kết luận: Trong 01 (m t) phong bì thư có ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 02 (hai) gói giấy bạc đều có mặt ngoài màu trắng bạc, mặt trong màu trắng đều là chất ma túy Heroine, có tổng trọng lượng là: 0,215 gam. Quá trình điều tra, Nguyễn Việt P đã thành khẩn khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Tại Bản cáo trạng số 23/KSĐT ngày 31 tháng 5 năm 2017, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 điều 194; Điểm p khoản 1 điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13; điểm b khoản 1 Điều 1
Nghị quyết số 109/2015/QH13, khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Việt P Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt P từ 24 (hai mươi tư) tháng đến 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 17/2/2017 và đề nghị miễn phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Việt P hoàn toàn nhất trí với bản luận tội và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình và không có ý kiến tranh luận gì với Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất để cải tạo và sớm trở về gia đình và xã hội.
XÉT THẤY
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Việt P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và được chứng minh bằng vật chứng đã thu giữ được, phù hợp với thời gian và địa điểm xẩy ra tội phạm, cụ thể: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 09/01/2017 tại thị trấn N, huyện T, Công an huyện Tân Yên phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Việt P, sinh năm 1976; Nơi ĐKHKTT: xóm L 3, xã V, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Chỗ ở: thôn P, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,215 gam ma tuý Heroine, với mục đích để sử dụng cho bản thân. Khi thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị cáo P đã đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, đã có đủ căn cứ khẳng định: Bị cáo Nguyễn Việt P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đã căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của bị cáo, của những người tham gia tố tụng khác và đề nghị HĐXX kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã truy tố. HĐXX nhận thấy bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên đã truy tố, cũng như lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được HĐXX chấp nhận. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, một mặt đã vi phạm chính sách độc quyền quản lý về các loại dược phẩm có tính chất gây nghiện của Nhà n- ước, mặt khác từ hành vi này của tội phạm, đã dẫn đến làm xói mòn đạo đức xã hội, phẩm chất và nhân cách của con người và là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác trong đời sống, gia đình và xã hội. Năm 2017, Bi cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Tân Yên xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm để tu dưỡng, rèn luyện mà tiếp tục
phạm tội mới. Do đó, HĐXX xét thấy cần phải có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Việt P thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Từ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo nêu trên. Mặt khác, bị cáo bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, khung hình phạt từ 02 năm tù đến 07 năm tù. Còn theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 thì khung hình phạt là từ 01 năm đến 05 năm. Do đó, HĐXX xét thấy cần áp dụng các điều luật có lợi cho bị cáo theo các quy định tại điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13; khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 và điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13, để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo, song cần bắt bị cáo cách ly với đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân lương thiện. Do bị cáo đang bị tạm giam nên HĐXX quyết định tạm giam bị cáo theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có nghề nghiêp và không có tài sản gì nên cần miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Đối với các đối tượng T là người cùng đi mua ma túy với P và người thanh niên mua hộ ma túy cho P, quá trình điều tra P không biết họ, tên đệm, năm sinh và địa chỉ cụ thể của T và người thanh niên trên. Do không có căn cứ để tổ chức điều tra xác minh nên Cơ quan điều tra quyết định tách phần tài liệu liên quan đến đối tượng T và người thanh niên mua hộ ma túy cho P ra khỏi hồ sơ vụ án để điều tra xử lý sau. HĐXX xét thấy là phù hợp cần chấp nhận. Đối với chiếc xe mô tô kiểu dáng Wave, màu đỏ T dùng chở P đi mua ma túy, do P không biết địa chỉ cụ thể của T và không biết biển kiểm soát của chiếc xe nên cơ quan điều tra không thu giữ được. Về vật chứng: Đối với 01 phong bì thư được niêm phong ký hiệu "QT" đã được dán kín bên trong có 0,203 gam ma túy Heroin. Cần tịch thu tiêu hủy Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 99 Bộ luật hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 điều 194; Điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13; điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 109/2015/QH13, khoản 3 Điều 7, Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 231, 234 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt P 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 17/2/2017. Vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; khản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư được niêm phong ký hiệu "QT" đã được dán kín bên trong có 0,203 gam ma túy Heroin. Về án phí: Áp dụng Điều 99 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận: - VKSND huyện T; - Chi cục THADS huyện T; - Công an huyện T; - TAND tỉnh Bắc Giang; - BÞ c¸o; Bùi Tư Duy - Lu. | Thẩm phán - chủ toạ phiên toà |