- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mùa A D - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mùa A D phạm tội: Mua bán trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP TỈNH ĐIỆN BIÊN ______________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2017/HSST Ngày 18/12/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vũ Thị Thành
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Vũ
2. Bà Bùi Thu Hằng
Những người tiến hành tố tụng tại phiên tòa:
Thư ký ghi biên bản phiên toà:
Bà Phạm Thị Sao - Thư ký Toà án Nhân dân huyện NP.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Ngọc Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở TAND huyện NP, tỉnh Điện Biên, Tòa án nhân dân huyện NP mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2017/HSST ngày 29/11/2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2017/HSST-QĐ ngày 05/12/2017 đối với:
Bị cáo: Mùa A D, Sinh năm 1964 tại xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Bản D, xã VĐ, huyện NP, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ văn hóa: Không; Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ Mùa A A và mẹ đẻ Giàng Thị B (Đều đã chết); Bị cáo có vợ là Cư Thị C sinh năm 1966; Bị cáo có 08 người con, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 2005; Tiền sự, tiền án: Không. Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/8/2017 về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đỗ Thế Điệp - Luật sư cộng tác viên Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 20 phút, ngày 29/8/2017, tổ công tác Công an huyện NP phối hợp với Công an xã VĐ làm nhiệm vụ tại khu vực bản D, xã VĐ, huyện NP, tỉnh Điện Biên phát hiện Mùa A D đang đi bộ từ biên giới Việt - Lào có biểu hiện nghi vấn về vi phạm pháp luật. Tổ công tác yêu cầu D dừng lại để kiểm tra hành chính người Mùa A D, qua kiểm tra thu giữ tại túi đeo màu đen đeo trên người D 01 gói nilon màu xanh bên trong có 150 viên màu hồng trên mỗi viên có ký hiệu WY (Nghi là ma túy tổng hợp). Tổ công tác tiến hành lập biên bản người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng đưa về cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện NP để điều tra làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại cơ quan điều tra Mùa A D khai nhận: Số Ma túy bị bắt quả tang trên là là Ma túy tổng hợp D mua ngày 26/8/2017 của người phụ nữ không biết tên, tuổi và địa chỉ của người đó ở đâu, tại khu vực bản D, xã VĐ, huyện NP với số tiền là 3.200.000VNĐ (Ba triệu hai trăm nghìn đồng), người phụ nữ bán Ma túy và D thỏa thuận D trả trước 2.000.000VNĐ (Hai triệu đồng), số tiền còn lại khi nào bán được ma túy thì D trả. Mục đích mua ma túy của D để sử dụng và bán kiếm lời, sau khi mua được Ma túy D đã sử dụng hết 10 viên. Đến khoảng 16 giờ ngày 27/8/2017 Mùa A D bán 10 viên cho 01 người phụ nữ không quen biết với số tiền là 200.000VNĐ (Hai trăm nghìn đồng), người phụ nữ mua Ma túy và D thỏa thuận khi nào làm thuê có tiền sẽ trả cho D. Ngày 29/8/2017 Mùa A D mang 150 viên ma túy đi bán và để sử dụng thì bị bắt giữ.
Tại Biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng, lấy mẫu giám định ngày 30/8/2017 của Công an huyện NP xác định: Nghi là ma túy tổng hợp 150 viên màu hồng có trong lượng là 14,36 (Mười bốn phẩy ba mươi sáu) gam, đã lấy mẫu giám định 10 viên trọng lượng là 0,96 gam, còn lại 13,40 gam.
Tại Bản kết luận giám định số: 749/GĐ-PC54, ngày 20/9/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận:
"Mẫu viên nén màu hồng gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine".
Tại bản Cáo trạng số: 83/QĐ-VKS-HS ngày 29/11/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Mùa A D về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của BLHS.
Tại phiên toà, bị cáo Mùa A D đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện NP đã truy tố bị cáo.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Mùa A D về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mùa A D từ 36 đến 42 tháng tù; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41/BLHS, khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 76/BLTTHS tịch thu tiêu huỷ vật chứng của vụ án là Methamphetamine. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Không áp dụng án phí HSST theo quy định của pháp luật đối với bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa nhất trí với cáo trạng truy tố bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy, luận tội của VKS đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ theo quy định của pháp luật giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo vì bị cáo là dân tộc thiểu số lại sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nhận thức hiểu biết pháp luật còn hạn chế, bị cáo chưa có tiền sự, tiền án, tại giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Căn cứ vào điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS xử phạt bị cáo: từ 36 đến 42 tháng tù; Miễn án phí HSST cho bị cáo theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án ngày 30/12/2016; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì gia đình bị cáo khó khăn, không có khả năng thi hành hình phạt này.
Bị cáo Mùa A D nhất trí nội dung bản luận cứ của người bào chữa, bản luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo không có tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và án phí HSST cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Mùa A D khai nhận hành vi phạm tội của mình là mua ma túy để sử dụng và bán lẻ cho người nghiện khác phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ cũng như bản Cáo trạng. Do đó đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Mùa A D phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 194/BLHS như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý đặc biệt các chất ma tuý của Nhà nước, mặt khác hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội trên địa bàn xã VĐ, huyện NP. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, để có ma túy sử dụng bị cáo đã mua ma túy tàng trữ sử dụng và bán lẻ cho người nghiện khác, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã và đang đi ngược lại với chủ trương của Đảng, Nhà nước ta trong việc cấm trồng, sử dụng, mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý. Vậy hành vi của bị cáo cần phải được xử lý thật nghiêm minh trước pháp luật để giữ vững kỷ cương của pháp luật góp phần đẩy lùi tội phạm ma tuý trong xã hội và làm gương răn đe giáo dục các đối tượng khác đang và đã có hành vi như bị cáo nhưng chưa bị phát hiện, xử lý.
Xét nhân thân bị cáo:
Mùa A D xuất thân trong gia đình lao động nhưng không chịu lao động để có tiền tiêu xài cho bản thân bị cáo đã mua ma túy về sử dụng và bán lẻ cho các người nghiện để kiếm lời. Khi bị bắt giữ bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, tại phiên toà bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, gia đình bị cáo khó khăn, vợ bị cáo có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì các con của bị cáo còn nhỏ, bị cáo là trụ cột trong gia đình. Đây cũng là các tình tiết giảm nhẹ được qui định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS. Xong cần xử lý bị cáo thật nghiêm minh trước pháp luật, bằng biện pháp cách ly bị cáo ra khỏi cuộc sống xã hội đời thường một thời gian để bị cáo có điều kiện cải tạo bản thân trở thành người có ích cho chính bị cáo và gia đình bị cáo.
Trong hồ sơ vụ án Mùa A D còn khai nhận đã mua và bán ma túy với người phụ nữ mà D không biết tên, địa chỉ của người đó ở đâu nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện NP không có căn cứ để điều tra, làm rõ xử lý theo quy định.
Xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS, HĐXX xét chấp nhận đề nghị của người bào chữa đối với bị cáo tại phiên tòa.
Xét hình phạt bổ sung:
Căn cứ vào khoản 5 Điều 194/BLHS về hình phạt bổ sung là phạt tiền, HĐXX xét thấy gia đình bị cáo sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền. Vì vậy, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt này đối với bị cáo.
Xét vật chứng của vụ án:
Là Methamphetamine, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 41/BLHS; khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 76/BLTTHS tịch thu tiêu huỷ.
Xét phần án phí:
Tại phiên tòa bị cáo đề nghị HĐXX xét miễn án phí HSST cho bị cáo. Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, HĐXX xét thấy bị cáo là dân tộc thiểu số sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn được miễn án phí HSST theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Mùa A D phạm tội: Mua bán trái phép chất ma tuý.
2. Áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 và khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mùa A D 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 29/8/2017.
3. Xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 của BLHS; khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 76 của BLTTHS, tịch thu tiêu huỷ lại 13,40 (Mười ba phẩy bốn mươi) gam Methamphetamine (Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 29/11/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện NP).
4. Về án phí:
Áp dụng Điều 99 của BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án ngày 30/12/2016, bị cáo Mùa A D được miễn án phí HSST theo quy định.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 18/12/2017./.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV&THA - TA Tỉnh; - Bị cáo; - Người bào chữa; - VKSND huyện NP; - Đội ma túy Công an NP; - Cơ quan THAHS CA NP; - Chi cục THA dân sự NP; - PC 81(THAHS) CA tỉnh Điện Biên; - Sở Tư pháp; - Lưu hsơ: VA, THAHS. Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên. Các hội thẩm nhân dân Trần Văn Vũ Bùi Thu Hằng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thành Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Thành |