vanban.org

Bản án 18/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử

dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Diệp Thị Thúy N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN D
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2017/HNGĐ-ST
Ngày 25-8-2017
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Đằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Dương Thanh Hùng

Bà Nguyễn Thị Mỹ Châu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Lâm - Thẩm tra viên Tòa án nhân

dân huyện D, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên

tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2017 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh

Trà Vinh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 157/2017/TLST-

HNGĐ, ngày 15 tháng 5 năm 2017 về “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo

Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 8

năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Diệp Thị Thúy N sinh năm 1997, địa chỉ ấp C, xã L,

huyện D, tỉnh Trà Vinh (Có mặt).

- Bị đơn: Anh Dương Văn K sinh năm 1992, địa chỉ ấp CĐ, xã LK, huyện

D, tỉnh Trà Vinh (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị Diệp Thị Thúy N và anh Dương Văn K tự nguyện tiến tới hôn nhân tổ

chức lễ cưới năm 2015 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LK, huyện D,

tỉnh Trà Vinh vào ngày 23-5-2016. Sau khi kết hôn anh, chị về chung sống cùng

gia đình anh K tại ấp CĐ, xã LK đến tháng 6 năm 2016 chị N mang thai được

khoảng 06 tháng thì anh, chị phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh K đi chơi

cùng với bạn bè tham gia vào tệ nạn xã hội, chị N can ngăn nhưng anh K không

thay đổi nên xảy ra mâu thuẫn, cải vã lẫn nhau, anh K không hối cải, lo làm ăn

xây dựng hạnh phúc gia đình, trong thời gian chị N sinh con anh K không tới lui

quan tâm chăm sóc cho chị và con chị, hơn 01 năm nay chị và anh K không còn sống chung nhưng không có giải pháp hàn gắn tình cảm với nhau, không còn thương yêu và quan tâm lẫn nhau nên chị yêu cầu giải quyết được ly hôn anh K, về con chung yêu cầu được nuôi dưỡng Dương Diệp T sinh ngày 10-10-2016, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung không yêu cầu giải quyết, về nợ chung không có không yêu cầu giải quyết. Anh Dương Văn K cho rằng mâu thuẫn vợ chồng không nghiêm trọng nên yêu cầu được đoàn tụ để cùng nhau chăm sóc, nuôi dạy con chung.

Tại phiên tòa hôm nay, chị Diệp Thị Thúy N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi

kiện; anh Dương Văn K yêu cầu được đoàn tụ để xây dựng hạnh phúc gia đình, nếu giải quyết ly hôn thì anh yêu cầu được nuôi dưỡng Dương Diệp T sinh ngày 10-10-2016, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung không yêu cầu giải quyết, về nợ chung không có không yêu cầu giải quyết.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Vụ án được thụ lý đúng thẩm quyền, xác định

đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng, Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ và hòa giải đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm. Về nội dung vụ án, tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh K đã trầm trọng, ly thân hơn 01 năm nay nhưng không đoàn tụ được, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện cho chị N được ly hôn anh K; về con chung là Dương Diệp T đề nghị giao cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng, ngoài ra đương sự không yêu cầu gì khác nên không đề nghị xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý

kiến, yêu cầu của đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thẩm quyền giải quyết: Xét thấy bị đơn anh Dương Văn K đăng ký

hộ khẩu thường trú và cư trú tại xã LK, huyện D, tỉnh Trà Vinh, đối chiếu quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Trà Vinh.

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Xét thấy đơn khởi kiện của chị Diệp

Thị Thúy N có nội dung yêu cầu ly hôn và tranh chấp về nuôi con nên có quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

. Về hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Diệp Thị Thúy N, thấy

rằng chị N và anh Dương Văn K tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LK đúng theo quy định pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh K là hợp pháp. Xét thấy mâu thuẫn hôn nhân giữa chị N và anh K xảy ra vào tháng 6 năm 2016, xuất phát từ việc bất đồng quan điểm sống anh K không lo làm ăn xây dựng hạnh phúc gia đình mà thường xuyên cùng với bạn bè tham gia vào tệ nạn xã hội, chị N đã nhiều lần khuyên can nhưng anh K không

thay đổi; hơn nữa anh, chị không còn sống chung hơn 01 năm nay mà không có

giải pháp hàn gắn đoàn tụ với nhau, qua xác minh thực tế tại nơi chị N và anh K

sinh sống thấy rằng tình trạng hôn nhân giữa anh, chị đã đến mức trầm trọng, đời

sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều

56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị N được ly

hôn anh K.

. Về con chung: Chị N và anh K có 01 người con chung là Dương Diệp

T sinh ngày 10-10-2016 thấy rằng từ khi anh, chị không còn sống chung đều do

chị N nuôi dưỡng, giáo dục, phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần, căn cứ

Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định giao cho chị

N được tiếp tục chăm sóc giáo dục và nuôi dưỡng cháu T.

. Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử đã giải thích nghĩa vụ cấp

dưỡng của cha, mẹ đối với con khi ly hôn theo quy định tại các Điều 82, 83 Luật

hôn nhân và gia đình nhưng chị N vẫn không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung

nên không xem xét.

. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

. Về nợ chung: Đương sự trình bày không có, không yêu cầu giải quyết

nên không xem xét.

. Về án phí: Chị Diệp Thị Thúy N phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm

theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy

ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử

dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Diệp Thị Thúy N.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Diệp Thị Thúy N được ly hôn anh Dương

Văn K.

Về con chung: Giao cho chị Diệp Thị Thúy N được nuôi dưỡng Dương

Diệp T sinh ngày 10-10-2016.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Diệp Thị Thúy N không yêu cầu anh Dương

Văn K cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Không bên nào được ngăn cản việc trong nom, chăm sóc, giáo dục nuôi

dưỡng con chung sau khi ly hôn.

Vì lợi ích của con chưa T niên khi cần thiết và có yêu cầu của các bên Tòa

án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Đương sự trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên

không xem xét.

Về án phí: Buộc chị Diệp Thị Thúy N phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn)

đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0009588 ngày 08 tháng 5 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện D, tỉnh Trà Vinh.

Án sơ thẩm N đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong

hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ