vanban.org

Bản án 18/2017/DSPT — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

TAND tỉnh Bình Định Tuyên án 25/12/2017 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/12/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 256 Bộ luật dân sự năm 2005; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.

Buô ̣c vợ chồng anh Nguyễn N , chị Nguyễn Thi ̣ H phải hoàn tr ả cho Uỷ ban nhân dân thi ̣ xa An N số tiềñ 000.000 đồng (chín triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 256 Bộ luật dân sự năm 2005; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.
  • Căn cứ chính? Điều 256 Bộ luật Dân sự; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bản án số: 18/2017/DSPT
Ngày: 25/12/2017

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

V/v “Đò i lại tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Tuấn Anh

Các Thẩm phán:

1. Ông Lê Văn Thường

2. Bà Nguyễn Thúy Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trí là thư ký tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Địnhtham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Lệ Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2017 tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 12/2017/TLPT-DS ngày 02 tháng 11 năm 2017 về: “Đòi la ̣i tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 190/2017/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân thị xã An N bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 38/2017/QĐ-PT ngày 04 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ủy ban nhân dân thị xã An N

- Ngườ i đa ̣i diê ̣n theo pháp luâ ̣t : Ông Đă ̣ng Vinh S – Chủ tịch UBND thị̃ xã An N.

- Ngườ i đa ̣i diê ̣n theo ủy quyền : Ông Nguyễn Đinh C – Trưở ng phòng

̀ Quản lý đô thị thị xã An N

(Văn bản ủy quyền số 1179/QĐ-UBND ngày 18/4/2017)

2. Bị đơn: Anh Nguyễn N

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thi ̣ H

Cùng trú tại: thôn Mỹ T, xã Nhơn P, TX. An N, tỉnh Bình Định.

4. Người kháng cáo: anh Nguyễn N – Bị đơn; chị Nguyễn Thi ̣ H – Ngườ i có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn Ủy ban nhân dân thi ̣ xã An N do ông Nguyễn Đinh C đại diện

̀ trình bày:

Thực hiê ̣n chinh sách hỗ trợ thay thế xe công nông ; xe lôi máy; xe cơ giớ i

́ ba bánh; xe thô sơ ba, bốn bánh, thuô ̣c diê ̣n bi ̣ đinh chi tham gia giao thông theỏ

̀ Quyết đi ̣nh số 548/2009/QĐ-TTg ngày 29/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ ; Thông tư số 122/2009/TT-BTC ngày 17/6/2009 của Bộ Tài chín h; Công văn 11024/BTC-TCNH ngày 04/8/2009 và Công văn số 6207/BTC-TCNH ngày 17/5/2010 của Bộ Tài chính, UBND thi ̣ xa An N đã

giao cho phõ

̀ng ban chu yên môn tổ chứ c thực hiê ̣n , cụ thể: Phòng Quản lý đô thị thị xã có văn bản hướng dẫn các xã, thị trấn (nay là phườ ng) lâ ̣p danh sách và tiến hành xác nhâ ̣n đơn xin hỗ trợ của các chủ phương tiê ̣n và hướ ng dẫn kiểm tra , thẩm đi ̣nh hồ sơ. Sau khi hoàn tất các thủ tục theo quy định, UBND thi ̣ xa ra quyết định hỗ trợ̃

cho các đối tượng trên.

Sau đó , UBND thi ̣ xa An N kiểm tra la ̣̃

i và phát hiê ̣n qu á trình tổ chức thực hiê ̣n đã có sự nhầm lẫn về mốc thời gian hỗ trợ dẫn đến việc làm thủ tục hồ sơ sai đối tượng. UBND thi ̣ xa đã ban hã

̀nh quyết đi ̣nh xử lý đối với việc hỗ trợ sai đồng thờ i mờ i các đối tượng nhâ ̣n tiền hỗ trợ sai quy đi ̣nh để yêu cầu nô ̣p trả lại số tiền đã nhận . Anh Nguyễn N không phải đối tượng được hỗ trợ nhưng chính quyền địa phương đã làm thủ tu ̣c cho anh N nên anh N đa nhâ ̣̃

n tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề 5.000.000 đồng và số tiền hỗ trợ mua mớ i thay thế phương tiê ̣n 4.000.000 đồng tổng cộng là 9.000.000 đồng. Do anh N không chịu trả vì vậy UBND thị xã An N khởi kiện yêu cầu vợ chồng anh Nguyễn N phải trả lại 9.000.000 đồng.

Bị đơn anh Nguyễn N trình bày:

Trướ c năm 2000 anh sở hữu chiếc xe đô ̣, thờ i gian nào không nhớ cu ̣ thể nhưng khi có thông báo của chinh quyền đi ̣a phương về viê ̣c đinh chi phương̉

́

̀ tiê ̣n xe đô ̣ chế để được hỗ trợ của Nhà nước. Anh đa bã ́n chiếc xe đô ̣ và mua xe Chiến Thắng thay thế . Theo hướ ng dẫn của cán bô ̣ đi ̣a phương , anh đa lã ̀m đơn đề nghị hỗ trợ . Sau đó , anh đa nhâ ̣̃

n số tiền 9.000.000 đồng (chín triệu đồng). Anh không đồng ý hoàn trả la ̣i số tiền trên vi đa chẫ

́p hành đúng chủ trương Nhà

̀

nướ c.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thi ̣ H trình bày:

Chị là vợ của anh Nguyễn N. Chị thống nhất như lờ i trinh bày củ a anh N.

̀ Chị không đồng ý trả số tiền đa nhâ ̣̃

n hỗ trợ trên vi thờ i điểm trên đa thự̃

c hiê ̣n

̀ đúng quy đi ̣nh của Nhà nướ c.

Bản án dân sự sơ thẩm số 190/2017/DS-ST ngày 15/9/2017 của Tòa án nhân dân thị xã An N đã xử:

Chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n đòi la ̣i tài sản của UBND thi ̣ x ã An N. Buô ̣c vợ chồng anh Nguyễn N , chị Nguyễn Thi ̣ H hoàn trả cho UBND thi ̣ xã An N 9.000.000 đồng (chín triệu đồng) tiền đa nhâ ̣̃

n hỗ trợ của phương tiê ̣n bi ̣ đinh chỉ

̀ tham gia giao thông nhưng do sai đối tượng.

Ngoài ra Bản án dân sự sơ thẩm còn quyết định về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các bên đương sự.

Ngày 10/10/2017 bị đơn anh Nguyễn N và ngườ i có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thi ̣ H kháng cáo không chấ p nhâ ̣n hoàn trả số tiền hỗ trợ 9.000.000 đồng cho UBND thi ̣ xa An Ñ

.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến như sau:

Về tố tụng: người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn N và chị Nguyễn Thị H; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Công văn số 6207/BTC-TCNH ngày 17.5.2010 của Bộ Tài chính quy định: “điều kiện hỗ trợ đối tượng có phương tiện bị đình chỉ tham gia giao thông đã thực hiện chuyển đổi phương tiện hoặc chuyển đổi nghề trong khoảng thời gian từ ngày 01.8.2007 đến ngày 29.4.2009”.

Anh Nguyễn N sở hữu xe độ chế vào năm 2003 đến tháng 7.2007 thì bán xe tình trạng sắt phế liệu (theo Giấy xin xác nhận của anh Ngọc đề ngày 17.7.2012) và mua xe tải mới hiệu Chiến thắng biển kiểm soát 77H -5241(Giấy đăng ký xe do Công an tỉnh Bình Định cấp ngày 11.7.2007 tên chủ xe Nguyễn N). Đối chiếu với quy định trên, anh N đã bán phương tiện và thay thế phương tiện khác vào tháng 7.2007 nên không thuộc đối tượng được hỗ trợ. Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc anh N và chị Nguyễn Thị H phải trả lại cho UBND thị xã An N 9.000.000 đồng do nhận sai đối tượng là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 256 Bộ luật Dân sự năm 2005 nên việc anh N và chị H kháng cáo không đồng ý trả lại 9.000.000 đồng cho UBND thị xã An N không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của vợ chồng anh Nguyễn N, chị Nguyễn Thị H không được chấp nhận nên theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội anh N, chị H phải chịu 300.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 256 Bộ luật dân sự năm 2005; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn N, chị Nguyễn Thị H; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Buô ̣c vợ chồng anh Nguyễn N , chị Nguyễn Thi ̣ H phải hoàn tr ả cho Uỷ ban nhân dân thi ̣ xa An N số tiềñ

9.000.000 đồng (chín triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của Ủy ban nhân dân thị xã An N cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng vợ chồng anh N, chị H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Án phí dân sự phúc thẩm:

Anh Nguyễn N và chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng được trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0002939 ngày 12.10.2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã An N.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ