vanban.org

Bản án 179/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hải Đ phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm, 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2026. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hải Đ - Sử dụng trái phép chất ma túy - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 179/2026/HS-ST
Ngày: 08/9/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Lắm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Văn Bi.

2. Ông Nguyễn Văn Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Tuấn Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Phan Minh Tân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 152/2026/TLST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 240/2026/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hải Đ, Giới tính: Nam; Sinh ngày 25 tháng 3 năm 1997; tại tỉnh Đồng Tháp; Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Nguyễn Văn R, sinh năm 1967 (đã chết) và bà Lê Thị A, sinh năm 1963 (đã chết); Vợ, con: Chưa có; Tiền án: không; Tiền sự: 01 lần: Ngày 22/3/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang (trước đây) Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 12 tháng theo Quyết định số 55/2024/QĐ-TA; chấp hành xong ngày 02/3/2025 (chưa được xoá tiền sự).

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 18/6/2026 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Hải Đ là người đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định số 965/QĐ-UBND ngày 12/12/2025 của Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn từ ngày 12/12/2025 đến ngày 14/4/2027.

Khoảng 19 giờ, ngày 20/5/2026, bị cáo và Nguyễn Trọng N, sinh năm 1990, cư trú ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp mỗi người hùn số tiền 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng) để mua ma túy về sử dụng. Nguyễn Trọng N đi mua ma túy, sau đó bị cáo và N đem ma túy vừa mua được vào phòng ngủ tại nhà của bị cáo thuộc ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp sử dụng hết số ma túy trên.

Bản kết luận giám định số 917/KL-KTHS ngày 28/5/2026 của Phòng K Công an tỉnh Đ, xác định: Tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Hải Đ, chứa trong 01 (một) chai nhựa trong suốt có nắp màu trắng đậy kín, được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong mã số PS1A 046018 có các chữ ký ghi họ tên: Lưu Xuân T, Nguyễn Hoài Â, Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Hải Đ.

* Đồ vật, tài liệu tạm giữ gồm:

- 01 (một) que test nhanh ma tuý Methamphetamine sau khi đã test nhanh với nước tiểu của Nguyễn Hải Đ vào ngày 21/5/2026, ghi nhận dương tính với loại ma tuý MET (Methamphetamine) và 01 (một) bao đựng que test nhanh ma túy trên hiệu "FASTEP RAPID DIAGNOSTIC TEST". Tất cả được niêm phong trong túi chuyên dụng mã số NS4 2169827 và dán kín lại, có các chữ ký xác nhận của Nguyễn Hải Đ, Nguyễn Văn T1, Lưu Xuân T và Nguyễn Hoài Â.

- 01 (một) chai nhựa trong suốt có nắp màu đen có hai lỗ, một lỗ được gắn một đoạn ống thuỷ tinh dạng phễu đã qua sử dụng và 01 (một) đoạn ống thủy tinh dạng phễu đã qua sử dụng hết chất ma túy, được niêm phong bằng túi chuyên dụng mã số NS3 24035336 có các chữ ký ghi họ tên Lưu Xuân T, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Hoài  và Nguyễn Hải Đ.

- 01 (một) chai nhựa trong suốt có nắp màu trắng bên trong có chứa nước tiểu của Nguyễn Hải Đ vào ngày 21/5/2026, được đặt trong một túi niêm phong chuyên dụng mã số PS1A 046018 và dán kín lại, có các chữ ký của Nguyễn Hải Đ, Nguyễn Văn T1, Lựu Xuân T2 và Nguyễn Hoài Â.

- 01 (một) hộp bằng kim loại, màu đỏ, có chữ ROMANO, có nắp đậy; 01 (một) ống nhựa (dạng ống hút) màu đen, 01 (một) hột quẹt gas (màu trắng tím) một phần đầu bị hỏng; 01 (một) đoạn ống nhựa trong suốt một đầu được vuốt nhọn; 01 (một) đoạn ống nhựa trong suốt một đầu được vuốt nhọn, một đầu được hàn kín; 01 (một) đoạn ống kim loại đã qua sử dụng, được niêm phong bằng túi chuyên dụng mã số PS1A 046025 có các chữ ký ghi họ tên Lưu Xuân T, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Tấn T3 và Nguyễn Hải Đ.

Ngoài ra Cáo trạng Viện kiểm sát còn nêu:

Đối với Nguyễn Trọng N, sinh năm 1990, cư trú ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp có dấu hiệu tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cùng với bị cáo. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa xác minh làm việc được với N, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định truy tìm đối với N, khi xác minh làm việc được có căn cứ sẽ xử lý sau.

Bản cáo trạng số 65/CT-VKSKV2 ngày 13/8/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố Nguyễn Hải Đ đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Đồng Tháp giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hải Đ đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2026.

Về xử lý vật chứng: một số vật chứng đã lưu giữ theo hồ sơ vụ án; số còn lại sau giám định đề nghị tịch thu tiêu hủy gồm:

- 01 túi niêm phong có mã PS3 24058825 có các dòng chữ PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TÌNH ĐỒNG THÁP, Niêm phong vụ số 894 ngày 24 tháng 5 năm 2026, bên giao giám định viên Nguyễn Quốc P, bên nhận Lưu Xuân T và có hình dấu tròn màu đỏ.

- 01 (một) hộp bằng kim loại, màu đỏ, có chữ ROMANO, có nắp đậy; 01 (một) ống nhựa (dạng ống hút) màu đen, 01 (một) hột quẹt gas (màu trắng tím) một phần đầu bị hỏng; 01 (một) đoạn ống nhựa trong suốt một đầu được vuốt nhọn; 01 (một) đoạn ống nhựa trong suốt một đầu được vuốt nhọn, một đầu được hàn kín; 01 (một) đoạn ống kim loại đã qua sử dụng, được niêm phong bằng túi chuyên dụng mã số PS1A 046025 có các chữ ký ghi họ tên Lưu Xuân T, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Tấn T3 và Nguyễn Hải Đ.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng với hành vi của bị cáo; bị cáo thống nhất với các kết luận giám định, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; Bản kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ.

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, là đối tượng đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định số 965/QĐ-UBND ngày 12/12/2025 của Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn từ ngày 12/12/2025 đến ngày 14/4/2027.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận ngày 20/5/2026 đã sử dụng trái phép chất ma túy, nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, sau đó bị Công an xã mời làm việc và phát hiện bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy.

Theo Bản kết luận giám định số 917/KL-KTHS ngày 28/5/2026 của Phòng K Công an tỉnh Đ, xác định: Tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của bị cáo Nguyễn Hải Đ

Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025;

Điều 256a. Tội sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:

a)…

b) Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện theo quy định của Luật phòng, chống ma túy;

Về tính chất, mức độ: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng dược liệu, dược phẩm độc hại mà cụ thể trong vụ án này là chất ma túy, hành vi này gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy làm ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần, mất khả năng lao động; làm suy thoái giống nòi, suy thoái nhân cách con người, gây ra các bệnh tật, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Bị cáo đã được chính quyền địa phương tuyên truyền pháp luật về ma túy, bị cáo nhận thức rõ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng để thỏa mãn nhu cầu cho bản thân, bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.

Về xử lý vật chứng: Quá trình tiến hành tố tụng đã xử lý một phần, hiện còn một số vật chứng sau khi đã giám định không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy gồm:

- 01 túi niêm phong có mã PS3 24058825 có các dòng chữ PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TÌNH ĐỒNG THÁP, Niêm phong vụ số 894 ngày 24 tháng 5 năm 2026, bên giao giám định viên Nguyễn Quốc P, bên nhận Lưu Xuân T và có hình dấu tròn màu đỏ.

- 01 (một) hộp bằng kim loại, màu đỏ, có chữ ROMANO, có nắp đậy; 01 (một) ống nhựa (dạng ống hút) màu đen, 01 (một) hột quẹt gas (màu trắng tím) một phần đầu bị hỏng; 01 (một) đoạn ống nhựa trong suốt một đầu được vuốt nhọn; 01 (một) đoạn ống nhựa trong suốt một đầu được vuốt nhọn, một đầu được hàn kín; 01 (một) đoạn ống kim loại đã qua sử dụng, được niêm phong bằng túi chuyên dụng mã số PS1A 046025 có các chữ ký ghi họ tên Lưu Xuân T, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Tấn T3 và Nguyễn Hải Đ.

Về án phí: bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Đối với Nguyễn Trọng N, sinh năm 1990, cư trú ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp có dấu hiệu tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cùng với bị cáo. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa xác minh làm việc được với N, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định truy tìm đối với N, khi xác minh làm việc được có căn cứ sẽ xử lý trong vụ án khác.

Qua xem xét quan điểm của Kiểm sát viên về những chứng cứ buộc tội, những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự là có căn cứ. Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hải Đ phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm, 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2026.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

* Tịch thu tiêu hủy:

- 01 túi niêm phong có mã PS3 24058825 có các dòng chữ PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TÌNH ĐỒNG THÁP, Niêm phong vụ số 894 ngày 24 tháng 5 năm 2026, bên giao giám định viên Nguyễn Quốc P, bên nhận Lưu Xuân T và có hình dấu tròn màu đỏ.

- 01 (một) hộp bằng kim loại, màu đỏ, có chữ ROMANO, có nắp đậy; 01 (một) ống nhựa (dạng ống hút) màu đen, 01 (một) hột quẹt gas (màu trắng tím) một phần đầu bị hỏng; 01 (một) đoạn ống nhựa trong suốt một đầu được vuốt nhọn; 01 (một) đoạn ống nhựa trong suốt một đầu được vuốt nhọn, một đầu được hàn kín; 01 (một) đoạn ống kim loại đã qua sử dụng, được niêm phong bằng túi chuyên dụng mã số PS1A 046025 có các chữ ký ghi họ tên Lưu Xuân T, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Tấn T3 và Nguyễn Hải Đ.

Thi hành khi án có hiệu lực.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

- Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ