vanban.org

Bản án 179/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 29/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hoàng M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Hoàng M 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 27/12/2022. Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Hoàng M "mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hoàng M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 179/2023/HS-ST
Ngày 29 – 6 – 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Viết Thống

2. Ông Nguyễn Hữu Long

- Thư ký phiên tòa: Ông Y Kăn Niê - Thư ký Toà án nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Xuân Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 180/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 182/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị Hoàng M; Sinh ngày 20 tháng 6 năm 1990; Tại: Tỉnh Đắk Lắk;

Nơi đăng ký HKTT: Tổ dân phố a, phường Tự A, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;

Chỗ ở: Số a, phường Tân L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;

Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Nghề nghiệp: Bán vé số; Trình độ học vấn: 04/12; Con ông Nguyễn Tấn Th (đã chết) và bà Trần Thị H, sinh năm 1955; Bị cáo không có chồng. Bị cáo có 05 người con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Buôn Ma Thuột từ ngày 27/12/2022 cho đến nay – Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa của bị cáo Nguyễn Thị Hoàng M: Bà Phạm Thị Bích Ch – Luật sư của Công ty TNHH một thành viên Bích Chi thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đắk Lắk.

Địa chỉ: Số a Giải Ph, phường Tân Th, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị T – Sinh năm: 1967 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số a đường Ngô Q, phường Tân L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk

- Người chứng kiến:

1. Ông Nguyễn Trần Quốc V – Sinh năm: 1986 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố a, phường Tân L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

2. Ông Y B K – Sinh năm: 1975 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số a đường AD, Buôn Kô S, phường Tân L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Hoàng M là đối tượng nghiện ma túy đá (Methamphetamine). Qua mối quan hệ xã hội, M biết một người đàn ông tên B (không rõ nhân thân, lai lịch) là người bán ma túy đá ở thành phố G, tỉnh Đắk Nông. Do không có việc làm ổn định và cần tiền tiêu xài nên M nảy sinh ý định mua ma túy để bán kiếm lời. Khoảng 00 giờ ngày 27/12/2022, M sử dụng điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, gắn sim số 0813.884.271 liên lạc với B mua 800.000 đồng ma túy đá, B đồng ý và hẹn đến trưa cùng ngày nhận ma túy từ xe buýt tuyến ĐL – ĐN của Công ty cổ phần vận tải ô tô ĐL ở trạm đường P, thành phố B. Khoảng 11 giờ ngày 27/12/2022, M đón xe dịch vụ Grab (không rõ nhân thân, lai lịch người lái xe và biển số xe) đi đến trạm xe buýt nhận 01 gói hàng, M mở ra kiểm tra thì thấy 01 gói nylon chứa ma túy đá. Sau đó, M đem ma túy về phòng trọ ở địa chỉ số a đường AK, phường Tân L, thành phố B, phân ma túy ra chứa trong 07 đoạn ống nhựa được bịt kín hai đầu, cất giấu để bán kiếm lời. Khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, khi M đang ở trong phòng trọ thì bị lực lượng Công an phường Tân Lập phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 07 đoạn ống nhựa được bịt kín hai đầu bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (đã được niêm phong theo quy định của pháp luật).

Tại Kết luận giám định số 79/KL- KTHS ngày 03/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng đựng trong 07 (bảy) ống nhựa màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,7103 gam, loại Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau giám có khối lượng 0,6897 gam ma túy, loại Methamphetamine.

Tại kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 66/KLGĐ ngày 12/4/2023 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nguyên kết luận: Kết luận về y học: Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 27/12/2022 và hiện tại (tại thời điểm giám định), Nguyễn Thị Hoàng M bị bệnh: Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất gây ảo giác. Kết luận về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 27/12/2022 và hiện tại (tại thời điểm giám định), Nguyễn Thị Hoàng M: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

Cáo trạng số 188/CT-VKS-HS ngày 07/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Nguyễn Thị Hoàng M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Thị Hoàng M thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến và đúng theo nội dung bản cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố.

Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Hoàng M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Hoàng M từ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng đến 03 (Ba) năm tù.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Đối với 0,6897 gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định trong gói niêm phong số 79/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đắk Lắk là tang vật của vụ án cần tịch thu tiêu hủy. Tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, gắn sim số 0813.884.271 là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa: Bị cáo Nguyễn Thị Hoàng M là người rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất gây ảo giác, hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi theo kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 66/KLGĐ ngày 12/4/2023 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nguyên. Bị cáo không có chồng nhưng có năm người con, trong đó có hai con bị bệnh nặng, mẹ già, bố mất sớm, là lao động chính duy nhất trong nhà. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét một mức án phù hợp, thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng đối với bị cáo, để bị cáo sớm quay trở về với gia đình và xã hội.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận và không bào chữa cho mình, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 27/12/2022, M sử dụng điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, gắn sim số 0813.884.271 liên lạc với B mua 800.000 đồng ma túy đá, B đồng ý và hẹn đến trưa cùng ngày bị cáo nhận ma túy từ xe buýt tuyến ĐL – ĐN của Công ty cổ phần vận tải ô tô ĐL ở trạm đường P, thành phố B. Khoảng 11 giờ ngày 27/12/2022, M đón xe dịch vụ Grab đi đến trạm xe buýt nhận 01 gói hàng, M mở ra kiểm tra thì thấy 01 gói nylon chứa ma túy đá. Sau đó, M đem ma túy về phòng trọ ở địa chỉ a AK, phường Tân L, thành phố B, phân ma túy ra chứa trong 07 đoạn ống nhựa được bịt kín hai đầu, cất giấu để bán kiếm lời. Khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, khi M đang ở trong phòng trọ thì bị lực lượng Công an phường Tân Lập phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 07 đoạn ống nhựa được bịt kín hai đầu bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng có khối lượng 0,7103 gam là ma túy loại Methamphetamin, đây là ma túy bị cáo mua về tàng trữ với mục đích để bán lại kiếm lời.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến trật tự quản lý Nhà nước về việc cất giữ, vận chuyển, trao đổi chất ma tuý, nguyên nhân gây mất ổn định trị an xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sức khoẻ con người, gia tăng các tệ nạn xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi, tuy nhiên bị cáo buộc phải biết chất ma tuý được Nhà nước thống nhất quản lý, mọi hành vi mua bán, sử dụng, tàng trữ trái phép đều bị pháp luật nghiêm cấm. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật, bị cáo đã mua bán trái phép chất ma tuý để kiếm lời. Vì vậy, bị cáo hoàn toàn phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình gây ra

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm

…”

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Nguyễn Thị Hoàng M bị bệnh: Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất gây ảo giác dẫn đến hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng: Không.

Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Đối với 0,6897 gam ma túy loại Methamphetamine và toàn bộ bao gói còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 79/KL-KTHS ngày 03 tháng 01 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đắk Lắk là tang vật của vụ án cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, số Imei: 350618547334008, kèm sim số 0813884271 là tài sản của bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với nguồn gốc số ma túy trong vụ án trên, bị cáo khai mua của đối tượng nam giới tên là “B”. Quá trình điều tra đến nay chưa xác định được nhân thân lai lịch của đối tượng tên B. Đồng thời Cơ quan Cảnh sát điều tra đã có công văn trao đổi, phối hợp thông tin tội phạm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông nhưng chưa có kết quả trả lời. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột tách hành vi của đối tượng trên ra khỏi vụ án để tiế p tụ c xác minh làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với bà Trần Thị T là chủ sở hữu dãy trọ tại địa chỉ số a đường AK, phường Tân L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk mà bị cáo cất giấu ma túy. Bà Trần Thị T cho bị cáo thuê phòng trọ nhưng không biết việc bị cáo cất giấu ma túy trong phòng trọ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột không đề cập xử lý hình sự là phù hợp.

Đối với Công ty cổ phần vận tải ô tô ĐL là đơn vị nhận vận chuyển số ma túy trên từ thành phố G, tỉnh Đắk Nông đến thành phố B, tỉnh Đắk Lắk nhưng không biết trong gói hàng là ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột không đề cập xử lý hình sự là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Hoàng M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hoàng M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Hoàng M 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 27/12/2022.

Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 0,6897 gam ma túy loại Methamphetamine và toàn bộ bao gói còn lại sau giám định có số 79/KL-KTHS ngày 03 tháng 01 năm 2023, ngoài bì thư có chữ ký Nguyễn Bá Hoàn và Hà Minh Hải, đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đắk Lắk, là tang vật của vụ án.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, số Imei 350618547334008, kèm sim số 0813.884.271 là tài sản của bị cáo Nguyễn Thị Hoàng M dùng vào việc phạm tội.

(Vật chứng nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/6/2023 giữa Công an thành phố Buôn Ma Thuột với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thị Hoàng M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bào chữa có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ