- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa bà Nguyễn Thị H và ông Lê Hữu L"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn ông Lê Hữu L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 179/2023/HNGĐ-ST Ngày 28 – 7 – 2023 “V/v ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Văn Đương.
- Bà Trần Thị Minh Hợi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thuỳ Dung - Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng – Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 127/2023/HNGĐ-ST ngày 12 tháng 5 năm 2023 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2023/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H. Sinh năm 1993. Hộ khẩu thường trú xóm A, xã QS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Địa chỉ hiện nay xóm X, xã CT, huyện YT, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên toà (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Lê Hữu L. Sinh năm 198x. Địa chỉ xóm A, xã QS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn là bà Nguyễn Thị H trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H và ông Lê Hữu L làm thủ tục đăng ký kết hôn ngày 11/7/2011 tại Ủy ban nhân dân xã QS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Việc kết hôn giữa bà Nguyễn Thị H và ông Lê Hữu L là trên tinh thần tự nguyện của hai bên, không bị ai ép buộc. Vợ chồng sống hạnh phúc từ khi kết hôn đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Đến nay, bà Nguyễn Thị H thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà Nguyễn Thị H được ly hôn ông Lê Hữu L.
- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà Nguyễn Thị H và ông Lê Hữu L có 02 con chung là Lê Hữu Minh Kh – sinh ngày 21/12/201x và Lê Thị Minh Tr – sinh ngày 05/6/201x. Ly hôn thì bà Nguyễn Thị H đề nghị Tòa án giao 02 (Hai) con chung cho ông Trần Quốc Lực được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo biên bản lấy lời khai ngày 26/5/2023, bị đơn là ông Lê Hữu L trình bày như sau: Ông Lê Hữu L và bà Nguyễn Thị H kết hôn ngày 11/7/2011 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã QS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Vợ chồng sống hạnh phúc từ khi kết hôn đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn do bà Nguyễn Thị H có quan hệ ngoại tình với người đàn ông khác. Từ năm 2018 đến nay vợ chồng sống ly thân. Ông Lê Hữu L thấy tình cảm vợ chồng không còn nhưng không đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị H
- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, ông Lê Hữu L và bà Nguyễn Thị H có 02 (Hai) con chung là Lê Hữu Minh Kh – sinh ngày 21/12/201x, Lê Thị Minh Tr – sinh ngày 05/6/201x. Nếu Tòa án giải quyết việc ly hôn theo yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H thì ông Lê Hữu L đề nghị Tòa án giao 02 (Hai) con chung cho ông Lê Hữu L được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi đủ 18 tuổi. Ông Lê Hữu L không yêu cầu bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Ông Lê Hữu L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An sau khi nhận xét, đánh giá việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự và phân tích nội dung vụ án; đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị H được ly hôn ông Lê Hữu L.
- Về con chung: Giao con chung chưa thành niên là Lê Hữu Minh Kh – sinh ngày 21/12/201x, Lê Thị Minh Tr – sinh ngày 05/6/201x cho ông Lê Hữu L được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho ông bà Nguyễn Thị H.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị H, ông Lê Hữu L đều không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Bị đơn là ông Lê Hữu L có địa chỉ tại xóm A, xã QS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Bà Nguyễn Thị H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, nuôi con với ông Lê Hữu L, do đó đây là vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con chung. Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Vụ án ly hôn giữa bà Nguyễn Thị H và ông Lê Hữu L, Tòa án phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên toà, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt nhưng nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; Hội đồng xét xử thấy rằng quá trình giải quyết vụ án thì các đương sự đã có ý kiến trình bày đầy đủ, việc vắng mặt của các đượng sự tại phiên toà không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H, ông Lê Hữu L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc và làm thủ tục đăng ký kết hôn ngày 11/7/2011 tại Ủy ban nhân dân xã QS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An, do đó hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị H và ông Lê Hữu L là hợp pháp.
Hội đồng xét xử thấy bà Nguyễn Thị H, ông Lê Hữu L sống ly thân đã lâu nhưng cả hai người đều không chăm lo cho nhau, không người nào có biện pháp để giữ gìn hạnh phúc gia đình, điều đó cho thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H và giải quyết cho bà Nguyễn Thị H được ly hôn ông Lê Hữu L.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà Nguyễn Thị H và ông Lê Hữu L có 02 con chung là Lê Hữu Minh Kh – sinh ngày 21/12/201x, Lê Thị Minh Tr – sinh ngày 05/6/201x. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị H và ông Lê Hữu L đều đề nghị Tòa án giao con chung cho ông Lê Hữu L được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử thấy rằng từ thời điểm sống ly thân cho đến nay, các con chung sống ổn định cùng ông Lê Hữu L tại xóm A, xã QS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Do đó Hội đồng xét xử thấy rằng để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển lâu dài của các con chung nên cần giao cho ông Lê Hữu L được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung chưa thành niên là Lê Hữu Minh Kh, Lê Thị Minh Tr cho đến khi đủ 18 tuổi.
Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Lê Hữu L không yêu cầu bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, do đó Hội đồng xét xử tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho bà Nguyễn Thị H.
Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều không yêu cầu Toà án giải quyết tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn ông Lê Hữu L.
2. Về con chung: Giao cho ông Lê Hữu L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên là Lê Hữu Minh Kh – sinh ngày 21/12/201x và Lê Thị Minh Tr – sinh ngày 05/6/201x cho đến khi đủ 18 tuổi.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho bà Nguyễn Thị H.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
4. Trường hợp Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) do bà Nguyễn Thị H đã nạp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002951 ngày 11/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Đô Lương; - Chi cục THADS huyện Đô Lương; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - UBND xã QS, huyện ĐL; - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN Hoàng Văn Hào Trần Văn Hải | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Hà THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Hồng Hà |