vanban.org

Bản án 179/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội Tuyên án 13/10/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tường L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tƣờng L 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/5/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tường L - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐA
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 179/2022/HSST
Ngày 13/10/2022.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐA – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ Phiên toà: Ông Trần Trung Trực

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Thu Lý

2. Ông Nguyễn Đăng Hoàn

- Thư ký phiên toà: Ông Thịnh Quang Trung – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện ĐA.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện ĐA, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: bà Lê Thị Thanh Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 13/10/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐA, Thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 163/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 175/2022/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Tƣờng L sinh năm 1972 tại Hà Nội; giới tính: nam; Hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: thôn ĐM, xã UN, huyện ĐA, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 04/10; Con ông: Nguyễn Văn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị K (đã chết); có vợ là chị Phạm Thị A; có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2020; Về nhân thân: theo trích lục tiền án, tiền sự số 5422584/2022/PV06 ngày 21/6/2022 của Công thành phố Hà Nội và lý lịch bị can thì bị cáo có 03 tiền án, 02 tiền sự:

- Ngày 13/9/1987, Công an huyện ĐA xử lý hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa và Đánh bạc.

- Ngày 12/9/1989, Công an huyện ĐA xử lý hành chính về hành vi Cố ý gây thường tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác.

- Tại bản án số 34 ngày 10/4/1991, Toà án nhân dân huyện ĐA xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản của công dân (Đã được xóa án tích).

- Tại bản án số 101 ngày 30/9/1992, Toà án nhân dân huyện ĐA xử phạt bị cáo 50 tháng tù về tội Cướp đoạt tài sản của công dân và tội Cố ý gây thương tích cho người khác (Đã được xóa án tích).

- Tại bản án số 840 ngày 14, 15 và 16/11/2001, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo L 05 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích (bản án phúc thẩm số 922 ngày 04/7/2002 của Tòa án nhân dân tối cao xử y án, bị cáo được đặc xá tha tù trước thời hạn ngày 28/4/2005, chưa nộp án phí (Chưa được xóa án tích).

Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/5/2022 cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện ĐA

- Công an thành phố Hà Nội. Có mặt.

Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Đức P, sinh năm 1986. Nơi cư trú: thôn DN, xã VH, huyện ĐA, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 15 phút ngày 18/5/2022, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an huyện ĐA làm nhiệm vụ tại khu vực nghĩa trang thôn DN, xã VH, huyện ĐA, thành phố Hà Nội đã nghi vấn và kiểm tra, khám người theo thủ tục hành chính đối với Nguyễn Đức P (sinh năm: 1986; Nơi cư trú: thôn DN, xã VH, huyện ĐA, thành phố Hà Nội) phát hiện tại nền đất gần vị trí P đang ngồi có 01 chai nhựa màu trắng, trên nắp có gắn ống hút bằng nhựa; 01 mảnh giấy bạc, kích thước (4x5)cm đã qua sử dụng; 01 mảnh giấy bạc, kích thước (2x25)cm, một mặt cháy đen đã qua sử dụng và 01 bật lửa ga. Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ, niêm phong vật chứng rồi đưa Nguyễn Đức P về trụ sở Công an huyện ĐA để tiếp tục điều tra làm rõ, đưa vật chứng đi giám định.

Ngày 25/5/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội có bản kết luận giám định số 3295/KLGĐ-PC09 kết luận: 01 mảnh giấy bạc có dính ma túy loại Methamphetamine; 01 mảnh giấy bạc, một mặt bị cháy đen có dính ma tuý loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra, anh Nguyễn Đức P khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 18/5/2022, P ngồi uống nước tại khu vực cổng trường tiểu học VH thuộc thôn DN, xã VH, huyện ĐA cùng bạn là Nguyễn Đình T (sinh năm: 1986; Nơi cư trú: thôn DN, xã VH, huyện ĐA). Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên P dùng điện thoại số 0981860117 của Phượng gọi đến số điện thoại 0901058222 của một người đàn ông tên “Lân” nhà ở thôn ĐM, xã UN, huyện ĐA và đặt vấn đề mua 200.000 đồng tiền ma túy “đá” và 100.000 đồng tiền ma túy “ngựa”. L đồng ý và hẹn P đến nhà L để giao dịch mua bán ma túy. Sau đó, P nhờ Tiệp chở đến thôn ĐM, xã UN bằng xe máy của Tiệp nhưng không nói cho Tiệp biết mục đích đi để mua ma túy. Khi đến nơi, P bảo T đứng đợi ở ngoài còn P một mình đi vào nhà “Lân”, đưa cho L 300.000 đồng và L đưa cho P 01 gói giấy bạc bên trong có ma túy “đá” và 01 viên ma túy “ngựa”. Sau khi mua được ma túy, P bảo T chở về cánh đồng thôn DN, xã VH, huyện ĐA. Đến nơi P xuống xe còn T đi về nhà và P một mình đi vào nhà chờ nghĩa trang thôn DN lấy số ma túy vừa mua được ra để sử dụng. Khi P vừa sử dụng ma túy xong thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện, bắt giữ. Mục đích P mua ma túy là để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không còn mục đích nào khác.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Đình T khai nhận phù hợp với lời khai của Nguyễn Đức P. T không biết mục đích P đi mua ma túy và sử dụng ma túy.

Căn cứ vào: lời khai của Nguyễn Đức P và Nguyễn Đình T; kết quả dẫn giải đối tượng Phượng và Tiệp chỉ địa điểm nhà của “Lân”, sơ đồ xác định địa điểm, kết quả Phượng nhận dạng “Lân”; đã xác định được người đàn ông tên “Lân” bán ma túy cho Nguyễn Đức P là Nguyễn Tường L.

Ngày 18/5/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện ĐA đã ra lệnh khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện tại thôn ĐM, xã UN đối với Nguyễn Tường L về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy. Quá trình khám xét khẩn cấp, cơ quan Công an phát hiện trong túi áo khoác bên trái của chiếc áo khoác màu xanh đang treo trên tường tại phòng bếp nhà L có 01 lọ nhựa hình trụ tròn màu trắng – vàng đường kính 2,5cm cao 8cm bên trong có: 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa 17 viên nén hình tròn màu hồng; - 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 đoạn ống nhựa đã qua sử dụng.

Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ và niêm phong vật chứng, sau đó đưa Nguyễn Tường L về trụ sở để tiếp tục làm việc. Ngoài ra còn tạm giữ của L: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen lắp sim số thuê bao 0901058222, đưa vật chứng nghi là ma túy đi giám định.

Ngày 26/5/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội có bản kết luận giám định số 3391/KLGĐ-PC09 kết luận: 17 viên nén hình tròn màu hồng bên trong 1 túi nilon đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 1,662 gam; Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 1,070 gam; 01 đoạn ống nhựa có dính ma túy loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra; Nguyễn Tường L khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của Phượng. Đối với số ma túy L bán cho Phượng và Cơ quan điều tra thu giữ tại nhà; L khai đi một mình sang khu vực nội thành Hà Nội (không nhớ địa chỉ cụ thể) gặp và mua của một nam giới (không biết tên, tuổi và địa chỉ) đứng ở ven đường 3.000.000 đồng tiền ma túy bao (gồm 20 viên ma túy ngựa với giá 75.000 đồng/01 viên và 1.500.000 đồng tiền ma túy đá). Sau khi mua được ma túy, L đã sử dụng một mình hết 02 viên ma túy ngựa và một ít ma túy đá. Số ma túy còn lại L cất giấu tại nhà mục đích để bán cho khách nhằm thu lời.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho L tại khu vực quận Tây Hồ, Hà Nội; do L khai không biết nhân thân, lại lịch của người đàn ông đã bán ma túy nên Cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ.

Đối với Nguyễn Đức P quá trình điều tra xác định P có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 11/9/2022, Công an huyện ĐA đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Đức P bằng hình thức phạt cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với Nguyễn Đình T đã chở Nguyễn Đức P đến nhà L để P mua ma túy. Tuy nhiên P không nói cho T biết mục đích đến nhà L. Vì vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với T.

Tại bản Cáo trạng số 171/CT-VKSĐA ngày 30/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐA đã Quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Tường L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại Phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Tường L khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện ĐA giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Khoản 1 Điều 251, điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ Luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Tường L từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo L vì bị cáo là con nghiện, không có nghề nghiệp ổn định.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong có 2,606 gam Methamphetamine; 01 đoạn ống nhựa; 01 phong bì niêm phong bên trong có 02 mảnh giấy bạc; 01 chai nhựa có gắn ống hút bằng nhựa; 01 bật lửa ga; 02 sim điện thoại.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel và 100.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hành vi và tội danh của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ để kết luận: ngày 18/5/2022, Nguyễn Tường L đã có hành vi bán trái phép ma túy loại Methamphetamine cho Nguyễn Đức P tại nhà của L ở thôn ĐM, xã UN, huyện ĐA với giá 300.000 đồng. Quá trình khám xét nơi ở của Nguyễn Tường L còn phát hiện 17 viên nén hình tròn màu hồng bên trong 1 túi nilon đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 1,662 gam; Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 1,070 gam, mục đích L cất giấu số ma túy này ở nhà là để sử dụng và bán. Quá trình điều tra chỉ chứng minh được bị cáo lần đầu bán ma túy.

Như vậy hành vi của bị cáo Nguyễn Tường L đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, được quy định tại Khoản 1, Điều 251 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm

đến 07 năm...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Hành vi Mua bán trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội vì chẳng những đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý và chất gây nghiện khác, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, mà còn làm gia tăng các tệ nạn về ma tuý và các loại tội phạm khác trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung, huyện ĐA nói riêng. Ma túy với một tác hại khôn lường do sức tàn phá của nó, chính vì vậy mà Nhà nước và cả cộng đồng xã hội ra sức đấu tranh nhằm bài trừ. Bị cáo nhận thức được điều này, song do hám lợi nên vẫn cố tình phạm tội. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt tù nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung, nhằm hạn chế các loại tội phạm.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm do vậy cần áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự

Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do vậy cần áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa bị cáo khai bị nhiễm HIV từ năm 2005, đang điều trị đến nay và có xuất trình sổ lấy thuốc điều trị.

Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự; căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung với mức hình phạt thấp hơn Viện kiểm sát đề nghị là thỏa đáng.

Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

- Quá trình điều tra Cơ quan điều đã thu giữ:

+ 01 phong bì niêm phong bên trong có 2,606 gam Methamphetamine; 01 đoạn ống nhựa thu giữ của Nguyễn Tường L; 01 phong bì niêm phong bên trong có 02 mảnh giấy bạc, 01 chai nhựa có gắn ống hút bằng nhựa, 01 bật lửa ga thu giữ của Nguyễn Đức P; 02 sim điện thoại là vật chứng vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone thu giữ của Nguyễn Tường L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel thu giữ của Nguyễn Đức P là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu vào ngân sách nhà nước.

+ Trả lại cho anh Nguyễn Đức P 100.000 đồng là tài sản của anh P.

- Buộc bị cáo nộp lại số tiền 300.000 đồng là tiền do phạm tội mà có

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện ĐA thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố và xét xử. Kết luận điều tra của công an ĐA, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐA và đề nghị hình phạt áp dụng với bị cáo là đúng, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tường L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 251, Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tƣờng L 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/5/2022.

2. Về xử lý vật chứng, án phí:

- Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án xử:

+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel.

+ Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 300.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

+ Trả lại cho anh Nguyễn Đức P 100.000 đồng

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong có 2,606 gam Methamphetamine; 01 đoạn ống nhựa; 01 phong bì niêm phong bên trong có 02 mảnh giấy bạc; 01 chai nhựa có gắn ống hút bằng nhựa; 01 bật lửa ga; 02 sim điện thoại.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 03/10/2022 giữa Công an huyện ĐA, thành phố Hà Nội và Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐA, thành phố Hà Nội; Giấy nộp tiền vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐA ngày 03/10/2022).

Bị cáo Nguyễn Tường L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đức P có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật đối với phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ