vanban.org

Bản án 179/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 27/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Khánh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Khánh T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt để tạm giữ, tạm giam là ngày 15-8-2022. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Khánh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Khánh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
TỈNH LẠNG SƠN
--------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:179/2022/HS-ST
Ngày: 27-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thịnh;

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hà Thị Hồng Thu;

Ông Nguyễn Xuân Qúy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Khanh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 159/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:186/2022/QĐXXST-QĐ ngày 13 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:

Hoàng Khánh T, sinh ngày 01/9/1991 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số */*, đường C, phường C1, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; chỗ ở: Số *, ngõ *, thôn H, xã H1, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; con ông: Hoàng V, sinh năm 1958 và bà Vy Thị H, sinh năm 1962; vợ: Hà Thị T, đã ly hôn năm 2018; con: Có 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 133/2018/HS-ST ngày 24/8/2018 của Tòa án nhân dân thành phố L về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, đã chấp hành xong hình phạt và các quyết định khác của bản án, được xóa án tích, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/8/2022 đến nay, có mặt.

- Người chứng kiến: Ông Ninh Dẩu H, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 50 ngày 15/8/2022, tại trước cửa số nhà *, thôn H, xã H1, thành phố L, Công an thành phố L bắt quả tang Hoàng Khánh T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trong bàn tay phải của Hoàng Khánh T đang cầm 01 (một) ví giả da màu đen (kích thước 19 x 10 x 01cm), bên trong có: 01 (một) túi nilon màu trắng (kích thước 2,5x02cm) chứa 02 viên nén màu hồng và chất tinh thể màu trắng; 01 (một) túi nilon màu trắng (kích thước 2,5x 02cm) chứa chất bột màu nâu; 01 (một) chứng minh thư nhân dân mang tên Hoàng Khánh T; 03 (ba) mảnh giấy bạc màu trắng (cùng kích thước 04 x 14 cm); số tiền 1.050.000 đồng. Ngoài ra còn thu giữ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen, lắp sim thuê bao 0822285818, máy cũ đã qua sử dụng.

Tại Bản kết luận giám định số 295/KL-KTHS ngày 17/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất tinh thể màu trắng và 02 viên nén màu hồng gửi giám định đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng là 0,327 gam (đã trừ bì); Chất bột màu nâu gửi giám định là chất ma túy Methamphetamine có khối lượng là 0,127 gam (đã trừ bì). Tổng khối lượng 0,454 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Khánh T khai nhận: Bản thân sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2018 đến nay. Khoảng 22 giờ 15/8/2022, Hoàng Khánh T gọi điện đến số điện thoại 0344.782.883 của một nam thanh niên tên K (tên thường gọi là C) hỏi mua 02 viên ma túy “ngựa” và 200.000 đồng ma túy “đá”, K đồng ý và hẹn Hoàng Khánh T đến khu vực ngã * đường B, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn để giao dịch. Hoàng Khánh T bắt 01 chiếc xe taxi (không nhớ biển kiểm soát) rồi một mình đi đến khu vực ngã * đường B gặp K nhận 01 (một) túi nilon bên trong chứa 02 viên ma túy “ngựa” và một ít ma túy “đá” và được K cho thêm 01 (một) túi nilon bên trong chứa sái ma túy. Hoàng Khánh T trả cho K 400.000 đồng rồi cất số ma túy trên vào chiếc ví giả da của mình sau đó lên xe taxi đi về. Khi đến đầu ngõ 02, thôn H, xã H1 T xuống xe đi bộ về nhà thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang như đã nêu trên.

Kết luận giám định số 359/KL-KTHS ngày 05/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Toàn bộ số tiền 1.050.000 đồng, tiền Việt Nam niêm phong trong phong bì gửi giám định đều là tiền thật.

Quá trình điều tra, bị cáo Hoàng Khánh T thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.

Tại Cáo trạng số: 157/CT-VKS ngày 17-11-2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Hoàng Khánh T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Hoàng Khánh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Khánh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Khánh T từ 15 đến 18 tháng tù. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong bên trong đựng mẫu vật sau giám định, 03 (ba) mảnh giấy bạc màu trắng (cùng kích thước 04 x 14cm), 01 (một) ví giả da màu đen (kích thước 19 x 10 x 01cm) cũ đã qua sử dụng. Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen, lắp sim thuê bao 0822285818, máy cũ đã qua sử dụng. Trả lại cho bị cáo; 01 (một) chứng minh nhân dân mang tên Hoàng Khánh T, 01 phong bì niêm phong số tiền 1.050.000 đồng.

Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung vì bị cáo không có thu nhập ổn định. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thấy lỗi lầm của bản thân, bị cáo xin được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tòa án đã triệu tập người chứng kiến ông Ninh Dẩu H, tại phiên tòa hôm nay ông Ninh Dẩu H vắng mặt, trong hồ sơ đã có lời khai của ông Ninh Dẩu H. Do vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông Ninh Dẩu H theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với Kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ xác định: Hồi 22 giờ 50 phút ngày 15/8/2022, tại trước cửa số nhà *, thôn H, xã H1, thành phố L, Hoàng Khánh T đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,454 gam chất ma túy Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị cơ quan chức năng phát hiện, bắt quả tang. Khi thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị cáo Hoàng Khánh T có đầy đủ năng lực hành vi, do vậy, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, có đủ cơ sở kết tội bị cáo Hoàng Khánh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy cũng như tệ nạn ma túy nói chung là nguyên nhân làm phát sinh các loại tệ nạn xã hội khác. Hiện nay, việc đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy đang là nhiệm vụ cấp bách của toàn xã hội. Chính vì vậy, mọi hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đều phải bị xử lý nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật.

Về nhân thân: Bị cáo chưa bị xử phạt hành chính. Bị cáo đã từng bị kết án tại Bản án số 133/2018/HS-ST ngày 24/8/2018 của Tòa án nhân dân thành phố L về hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, đã được xóa án tích. Bị cáo đã được pháp luật giáo dục cải tạo nhưng không tiến bộ, hiện nay bị cáo sử dụng chất ma túy. Do đó bị cáo có nhân thân xấu.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm phục vụ lợi ích bất hợp pháp của bản thân. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có thể giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản, nghiện chất ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo (biên bản xác minh ngày 12-10-2022).

Đối với nam thanh niên tên K bán ma túy cho Hoàng Khánh T, do không xác định được họ tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không làm rõ được để xử lý. Đối với số điện thoại 0344.782.883 của nam thanh niên tên K, Hoàng Khánh T liên lạc để mua bán ma túy, Cơ quan điều tra Công an thành phố L đã tiến hành thu giữ điện tín nhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án chưa có kết quả trả lời, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý sau, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng: Đối với 01 (một) phong bì niêm phong bên trong đựng mẫu vật sau giám định, 03 (ba) mảnh giấy bạc màu trắng (cùng kích thước 04 x 14cm) và (một) ví giả da màu đen (kích thước 19 x 10 x 01cm) cũ đã qua sử dụng là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, liên quan đến hành vi phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy. Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen, lắp sim thuê bao 0822285818, máy cũ đã qua sử dụng do bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội. Trả lại cho bị cáo 01; 01 (một) chứng minh nhân dân mang tên Hoàng Khánh T, 01 phong bì niêm phong số tiền 1.050.000 đồng tiền Việt Nam vì không liên quan đến hành vi phạm tội.

Về án phí: Do bị kết án nên bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội đã xảy ra, đúng với các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn luật định theo quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 38, 47, 50 của Bộ luật Hình sự; Căn cứ điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Khánh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Khánh T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt để tạm giữ, tạm giam là ngày 15-8-2022.

3. Về xử lý vật chứng:

3.1 Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong bên trong đựng mẫu vật sau giám định bên trong có 0,308 gam Methaphetamin; 03 (ba) mảnh giấy bạc màu trắng (cùng kích thước 04 x 14cm) và 01 (một) ví giả da màu đen (kích thước 19 x 10 x 01cm), cũ đã qua sử dụng.

3.2 Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen, lắp sim thuê bao 0822285818, máy cũ đã qua sử dụng.

3.3 Trả lại cho bị cáo Hoàng Khánh T: 01 (một) chứng minh nhân dân mang tên Hoàng Khánh T, 01 phong bì niêm phong số tiền 1.050.000( một triệu không trăm năm mươi nghìn) đồng tiền Việt Nam (Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18 tháng 11 năm 2022).

4. Về án phí: Bị cáo Hoàng Khánh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ