vanban.org

Bản án 179/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương Tuyên án 30/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Bá Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Bá Đ 33 (ba mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24/8/2022. Về biện pháp tư pháp: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Bá Đ phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Bá Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 179/2022/HS-ST
Ngày 30-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Khỏe và ông Phạm Văn Thắng

Thư ký Tòa án: Ông Mai Văn Việt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 190/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 185/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Phạm Bá Đ, sinh năm 1967 tại Hải Dương. Nơi cư trú: Số 07/65 B S, phường Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Bá C (đã chết) và bà Bùi Thị N; có vợ là Nguyễn Thị H và 01 con sinh năm 1998; tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 179 ngày 13/11/2019, Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương xử phạt 25 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/4/2021, nộp án phí ngày 21/2/2020); tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 198 ngày 28/12/2005, Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương xử phạt 27 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/9/2007, nộp án phí ngày 21/5/2009); Tại bản án hình sự sơ thẩm số 117 ngày 24/7/2014, Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương xử phạt 27 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/7/2016, nộp án phí ngày 26/9/2017); Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào cơ sở chữa bệnh số 593 ngày 18/3/2002 của UBND tỉnh Hải Dương áp dụng biện pháp chữa trị 12 tháng (tra cứu không còn lưu giữ hồ sơ); Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào cơ sở cai nghiện số 1290 ngày 14/11/2003 của UBND thành phố H áp dụng biện pháp cai nghiện 12 tháng (chấp hành xong ngày 18/11/2004); Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực an ninh trật tự số 01 ngày 26/7/2009, công an phường Q, thành phố H xử phạt 350.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (nộp phạt ngày 16/7/2009); Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực an ninh trật tự an toàn xã hội số 74 ngày 01/7/2011, công an huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (hết thời hiệu thi hành); bị tạm giữ từ ngày 24/8/2022 đến ngày 26/8/2022 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

* Những người tham gia tố tụng khác:

- Người làm chứng:

+ Bà Nguyễn Thị Thanh M (vắng mặt).

+ Anh Phạm Văn V (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tại bản cáo trạng số 177/CT-VKSTPHD ngày 28/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương truy tố Phạm Bá Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự với căn cứ:

Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 24/8/2022; tại nơi ở của Phạm Bá Đ tại số 07/65 B S, phường Q, thành phố H; Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy công an thành phố H phối hợp với công an phường Q tiến hành kiểm tra hành chính đã phát hiện bắt quả tang Phạm Bá Đ có hành vi cất giấu trái phép trong tủ quần áo tại phòng của Đ 03 túi nilon màu trắng gồm: 02 túi nilon màu trắng, bên trong túi nilon thứ nhất có 02 gói nhỏ chất bột dạng cục màu trắng đều được gói bằng giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong túi nilon thứ hai có một gói nhỏ chất bột dạng cục màu trắng được gói bằng giấy bạc màu trắng và 01 túi nilon màu trắng trong có 02 túi nilon màu trắng bên trong đều có chất rắn dạng tinh thể màu trắng – Đ tự khai nhận là ma túy do Đ cất giấu để vừa sử dụng cho bản thân vừa bán kiếm lời, khi bị kiểm tra Phạm Bá Đ đã tự giác giao nộp các túi ma túy trên.

Cơ quan điều tra đã thu giữ toàn bộ các túi ma túy, đồng thời còn thu giữ 01 chai thủy tinh, 01 coóng thủy tinh và 01 ống hút bằng nhựa là dụng cụ Đ sử dụng ma túy do Phạm Bá Đ tự giác giao nộp trước sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị Thanh M và anh Phạm Văn V.

Quá trình điều tra, Phạm Bá Đ khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy nên vào khoảng 18 giờ ngày 23/8/2022, Đ đi bộ ra khu vực ga Hải Dương gặp và mua của một người phụ nữ không quen biết một gói ma túy loại Heroine với giá 500.000 đồng và 02 gói ma túy dạng đá với giá 300.000 đồng. Khi về nhà, Đ đã bỏ gói ma túy loại Heroine ra lấy một lượng nhỏ chia thành hai gói nhỏ nhằm mục đích nếu có người mua thì sẽ bán hai gói nhỏ trước với giá 100.000 đồng một gói; đối với gói ma túy loại Heroin còn lại Đ dự định giữ lại để sử dụng nhưng nếu có người mua thì cũng sẽ bán với giá 500.000 đồng. Đối với hai gói ma túy dạng đá Đ dự định sẽ bán với giá 200.000 đồng một gói. Tuy nhiên, khi chưa kịp bán thì bị cơ quan công an phát hiện bắt giữ.

Tại kết luận giám định số 471/KL-KTHS ngày 26/8/2022, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận:

Chất bột (dạng cục) mầu trắng trong 02 (hai) gói giấy màu trắng có dòng kẻ và gói giấy bạc mầu trắng được niêm phong trong phong bì ghi thu của Phạm Bá Đ, gửi đến giám định tổng khối lượng là 0,352 gam là ma túy loại Heroine.

Chất rắn (dạng tinh thể) mầu trắng trong 02 túi nilon màu trắng được niêm phong trong phong bì ghi thu của Phạm Bá Đ, gửi đến giám định tổng khối lượng là 0,265 gam là ma túy loại Methamphetamine.

Cơ quan giám định đã hoàn trả 0,306 gam Heroine kèm theo 02 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ, 01 mảnh giấy bạc màu trắng và 02 vỏ túi nilon mầu trắng; hoàn trả 0,200 gam ma túy loại Methamphetamine kèm theo 03 vỏ túi nilon màu trắng; hoàn trả 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Bá Đ thừa nhận bản thân biết Heroine và Methamphetamine là các chất ma túy và là các chất Nhà nước cấm lưu hành nhưng vì động cơ và mục đích tư lợi cá nhân, bị cáo đã thực hiện hành vi mua trái phép các chất ma túy, cất giấu nhằm mục đích vừa sử dụng cho bản thân, vừa bán cho người khác có nhu cầu sử dụng để kiếm lời. Bị cáo nhất trí với kết luận giám định; đồng thời thể hiện thái độ ăn năn hối cải; công nhận Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng.

Tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa trình bày quan điểm vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Bá Đ phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Áp dụng Khoản 1 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h (tái phạm) Khoản 1 Điều 52; Khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Bá Đ từ 30 đến 33 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24/8/2022.

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.

Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu cho tiêu hủy 0,306 gam Heroine kèm theo 02 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ, 01 mảnh giấy bạc màu trắng và 02 vỏ túi nilon mầu trắng do cơ quan giám định hoàn trả.

Tịch thu cho tiêu hủy 0,200 gam ma túy loại Methamphetamine kèm theo 03 vỏ túi nilon màu trắng do cơ quan giám định hoàn trả.

Tịch thu cho tiêu hủy 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định do cơ quan giám định hoàn trả.

Tịch thu cho tiêu hủy 01 chai thủy tinh, 01 coóng thủy tinh và 01 ống hút bằng nhựa.

Tiếp tục quản lý tại hồ sơ 02 đĩa CD ghi âm buổi hỏi cung đối với bị cáo.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự.

Bị cáo Phạm Bá Đ nhất trí với luận tội, không tham gia tranh luận, thể hiện lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về chứng cứ xác định bị cáo Phạm Bá Đ có tội và áp dụng pháp luật:

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Bá Đ thừa nhận vào 11 giờ 30 phút, ngày 24/8/2022; tại nơi ở của mình tại số 07/65 B S, phường Q, thành phố H. Khi bị kiểm tra đã tự giác giao nộp cho cơ quan điều tra 03 gói ma túy loại Heroin có tổng khối lượng 0,352 gam và 02 túi ma túy loại Methamphetamine có tổng khối lượng là 0,265 gam. Bị cáo xác định toàn bộ số ma túy trên là của bị cáo mua trái phép, cất giấu để vừa sử dụng cho bản thân và bán lại cho người khác kiếm lời.

Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản khám xét, biên bản niêm phong đồ vật bị tạm giữ, biên bản mở niêm phong, kết luận giám định. Các tài liệu, chứng cứ này phù hợp với các chứng cứ khác như: Bản tự khai của bị cáo, biên bản ghi lời khai bị cáo, biên bản hỏi cung bị cáo, biên bản ghi lời khai của những người làm chứng đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; thực hiện hành vi mua trái phép chất ma túy nhằm mục đích bán lại cho người khác trái phép để kiếm lời với lỗi cố ý; đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Với hành vi mua bán trái phép hai chất ma túy khác loại nhưng được quy định trong cùng điểm i Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Căn cứ Điều 4 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì tổng khối lượng các chất ma túy mà bị cáo cất giấu nhằm mục đích mua bán là 0,617 gam (Heroine 0,352 gam + Methamphetamine 0,265 gam) là dưới mức tối thiểu 05 gam quy định tại điểm i Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Do vậy, bị cáo Phạm Bá Đ bị Viện kiểm sát truy tố và bị đưa ra xét xử về tội danh “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là đủ căn cứ, đúng người thực hiện hành vi phạm tội và đúng pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” là hành vi cố ý trong khi là người đã bị kết án chưa được xóa án tích, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử về tội phạm ma túy, lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội về ma túy trong trường hợp tái phạm. Do vậy, cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo thì mới có đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy nhưng là người không có tài sản, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về biện pháp tư pháp: Toàn bộ số ma túy Heroine và Methamphetamine; các mảnh giấy, các vỏ túi nilon và vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định do cơ quan giám định hoàn trả; chai thủy tinh, coóng thủy tinh và ống hút nhựa thu giữ tại nơi ở của bị cáo. Xét Heroine và Methamphetamine là chất Nhà nước cấm lưu hành, các mảnh giấy, các vỏ túi nilon, vỏ phong bì, chai thủy tinh, coóng thủy tinh và ống hút nhựa không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy. Đối với 02 đĩa CD ghi âm buổi hỏi cung được xác định là tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên tiếp tục quản lý tại hồ sơ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố; điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về các vấn đề khác:

Hành vi bán Heroine và Methamphetamine cho Đ của người phụ nữ không xác định được nên không có căn cứ xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h (tái phạm) Khoản 1 Điều 52; Khoản 1 Điều 38; điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c Khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Bá Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Bá Đ 33 (ba mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24/8/2022.

3. Về biện pháp tư pháp:

Tịch thu cho tiêu hủy 0,306 gam ma túy loại Heroine kèm theo 02 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ, 01 mảnh giấy bạc màu trắng và 02 vỏ túi nilon mầu trắng do cơ quan giám định hoàn trả.

Tịch thu cho tiêu hủy 0,200 gam ma túy loại Methamphetamine kèm theo 03 vỏ túi nilon màu trắng do cơ quan giám định hoàn trả.

Tịch thu cho tiêu hủy 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định do cơ quan giám định hoàn trả.

Tịch thu cho tiêu hủy 01 chai thủy tinh, 01 coóng thủy tinh và 01 ống hút bằng nhựa.

(Vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/11/2022 giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố H và Chi cục thi hành án dân sự thành phố H).

Tiếp tục quản lý tại hồ sơ 02 đĩa CD ghi âm buổi hỏi cung đối với bị cáo.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Bá Đ phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Bá Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ