vanban.org

Bản án 179/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 13/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/6/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 179/2022/HS-ST
Ngày: 13/9/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Thắm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Dương;

2. Ông Lê Văn Rồi.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm, Thư ký Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa Huệ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 9 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 137/2022/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 183/2022/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

A, sinh năm 1984 tại tỉnh Bình Dương; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Phường X, thành phố Y, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông B và bà C; bị cáo chưa có vợ; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 18/6/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 20 tháng; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2022 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tại bản cáo trạng số 135/CT-VKS.CC ngày 29/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử A về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 08/6/2022, A điều khiển xe gắn máy biển số 51L4-6094 từ tỉnh Bình Dương đến khu vực xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi để mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực xã Tân Thạnh Đông, A điện thoại vào số máy 0921206049 gặp một người thanh niên (chưa rõ lai lịch) hỏi mua gói ma túy với giá 300.000 đồng thì người này đồng ý. Người thanh niên hẹn giao dịch tại khu vực đồng ruộng thuộc xã Tân Thạnh Đông. A điều khiển xe đến điểm hẹn thì có người thanh niên chạy xe gắn máy hiệu Sirius (không rõ biển số) đến, A đưa cho người thanh niên 300.000 đồng thì người thanh niên ném gói ma túy xuống đường gần chỗ A, A nhặt gói ma túy lên cầm trên tay phải rồi điều khiển xe gắn máy về nhà. Khi đến đoạn đường Võ Văn Bích thuộc ấp 4B, xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi thì A bị Công an xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi phát hiện bắt quả tang thu giữ tang vật vào lúc 16 giờ 20 phút cùng ngày.

Theo kết luận giám định số 3341/KL-KTHS ngày 14/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự thuộc Công an thành phố Hồ Chí Minh (BL37) kết luận: Bột màu trắng trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên A và hình dấu Công an xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4301g, loại Heroine.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội như sau: Qua xét hỏi tại phiên tòa, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ có tại hồ sơ nên đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo A đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo không có tiền án, có 01 tiền sự: Ngày 18/6/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 20 tháng. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo A từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong mang số vụ 658/22 có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Điều tra viên.

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số Imei 1: 357322081942564, số Imei 2: 357322083942562 là phương tiện bị cáo dùng liên lạc mua ma túy.

- Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, số loại Nouvo, loại xe hai bánh từ 50-175cm3, màu sơn đen, biển số 51L4-6094, số khung: RLCN2B520-5Y073265, số máy: 2B52-073265 là xe bị cáo mua và sử dụng đi mua ma túy. Kết quả xác minh xe này do ông H (địa chỉ: Phường R, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu xe. Kết quả làm việc, ông H trình bày xe đã bán cho người khác nhưng không rõ người mua, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra thông báo truy tìm chủ sở hữu nhưng đến nay vẫn chưa tìm được, đề nghị tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

Bị cáo A không tranh luận, không tự bào chữa.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử khoan hồng xử mức án nhẹ để bị cáo sớm về đoàn tụ gia đình, làm người công dân có ích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai tại phiên tòa của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ có tại hồ sơ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi tàng trữ ma túy nhằm để sử dụng thì bị Công an xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh bắt quả tang vào lúc 16 giờ 20 phút ngày 08/6/2022, qua giám định là ma túy ở thể rắn, tổng khối lượng 0,4301g, loại Heroine. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo A đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thỏa mãn cơn nghiện bị cáo đã bất chấp. Hội đồng xét xử nghĩ cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.

Về nhân thân, bị cáo không có tiền án, có 01 tiền sự: Ngày 18/6/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 20 tháng. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để khoan hồng giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

3 Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng …”. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, bị cáo phạm tội lần đầu, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- 01 gói niêm phong mang số vụ 658/22 có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Điều tra viên, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số Imei 1: 357322081942564, số Imei 2: 357322083942562 là phương tiện bị cáo dùng liên lạc mua ma túy, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, số loại Nouvo, loại xe hai bánh từ 50-175cm3, màu sơn đen, biển số 51L4-6094, số khung: RLCN2B520-5Y073265, số máy: 2B52-073265 là xe bị cáo mua và sử dụng đi mua ma túy. Kết quả xác minh xe này do ông H (địa chỉ: Phường R, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu xe. Kết quả làm việc, ông H trình bày xe đã bán cho người khác nhưng không rõ người mua, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra thông báo truy tìm chủ sở hữu nhưng đến nay vẫn chưa tìm được, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với người thanh niên (chưa rõ lai lịch) bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi tiếp tục điều tra khi nào có kết quả, xử lý sau. Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không xét, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.

6 Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “…Người bị kết án phải trả án phí theo quyết định của Tòa án…”, Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

7 Đề nghị của Kiểm sát viên như nêu trên là phù hợp.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Củ Chi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/6/2022.

- Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

+ Tịch thu, tiêu hủy 01 gói niêm phong mang số vụ 658/22 có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Điều tra viên.

+ Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số Imei 1: 357322081942564, số Imei 2: 357322083942562 và 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, số loại Nouvo, loại xe hai bánh từ 50-175cm3, màu sơn đen, biển số 51L4-6094, số khung: RLCN2B520-5Y073265, số máy: 2B52-073265.

Các vật chứng nêu trên được liệt kê tại phiếu nhập kho vật chứng số 123/PNK ngày 18/7/2022 của Công an huyện Củ Chi (BL41a).

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo A phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ