- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Thanh B về tội Chứa mại dâm - phạm tội chứa mại dâm (điều 327 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Thanh B; sửa bản án Bản án hình sự sơ thẩm số 85/2021/HSST ngày 27 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 327 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 179/2022/HS-PT Ngày: 28/3/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thế Lệ;
Bà Lê Thị Thúy Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tân, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 28 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 1021/2021/TLPT-HS ngày 11 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo Vũ Thanh B do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 85/2021/HSST ngày 27 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
* Bị cáo có kháng cáo:
Vũ Thanh B, sinh năm 1985; giới tính: Nam; nơi sinh: Xã ĐH, huyện KĐ, tỉnh Hưng Yên; nơi cư trú: Số 30, đường ĐT, phường QT, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Vũ Song H và bà Lê Thị S; có vợ là Nguyễn Thị H và 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/05/2021 đến ngày 28/6/2021 được thay thế bằng biện pháp bảo lãnh; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 10 phút, ngày 19/5/2021 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Hưng Yên phối hợp cùng Công an huyện TL và Công an thị trấn V, huyện TL bắt quả tang Phạm Thanh T và Nguyễn Văn Q, tổ chức cho 04 đôi nam nữ mua bán dâm tại 04 phòng của quán cafe 365 thuộc khu phố NT, thị trấn V, huyện TL, tỉnh Hưng Yên, cụ thể:
Phòng thứ nhất: Người nam giới tự khai là Nguyễn Văn H, sinh năm 1980 ở thôn BH, xã TS, huyện TL, nữ bán dâm là Phạm Thị Hồng H, sinh năm 1983 trú tại số 52 Trần Quý C, phường VM, quận ĐĐ, thành phố Hà Nội; thu giữ 01 vỏ bao cao su đã rách màu vàng in chữ “VIP” và 01 ruột bao cao su đang đeo trên dương vật của anh Hùng.
Phòng thứ hai: Người nam giới tự khai tên Lương Thanh T, sinh năm 1984 thôn BH, xã TS, huyện TL, nữ bán dâm là Nguyễn Thị P, sinh năm 1982 trú tại BB4, xã BH, huyện BY, tỉnh LC; thu giữ 01 vỏ bao cao su in chữ “VIP” và 01 ruột bao cao su đang đeo trên dương vật của anh T.
Phòng thứ ba: Người nam giới tự khai khai tên là Nguyễn Văn H, sinh năm 1986 ở tại thôn LB, xã TS, huyện TL, nữ bán dâm là Quách Thị H, sinh năm 1989 trú tại xóm T, xã TY, huyện CP, tỉnh Hòa Bình; thu giữ 01 vỏ bao cao su in chữ “VIP” và 01 ruột bao cao su đang đeo trên dương vật của anh H.
Phòng thứ tư: Người nam giới tự khai tên là Nguyễn Nhật L, sinh năm 1983 ở thôn LB, xã TS, huyện TL, nữ bán dâm là Nguyễn Thị H, sinh năm 1986 trú tại Khu 3, xã ST, huyện TT, tỉnh Phú Thọ; thu giữ 01 vỏ bao cao su in chữ “VIP” và 01 ruột bao cao su đang đeo trên dương vật của anh L.
Cơ quan điều tra thu giữ tại túi quần đang mặc của Phạm Thanh T số tiền 2.400.000đ (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng); thu giữ 01 quyển sổ trong đó có 03 trang ghi các chữ và số, trên mỗi trang đều có chữ ký của Phạm Thanh T; thu giữ tại các phòng nghỉ 10 bao cao su chưa qua sử dụng; thu giữ 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Oppo của T và 01 điện thoại Iphone màu trắng của Nguyễn Văn Q.
Tại bản kết luận giám định số 156/PC09 ngày 29/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên, kết luận: Chữ viết trên 03 trang giấy trong quyển sổ thu giữ (ký hiệu A) so với chữ viết của Phạm Thanh T trên mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 do cùng một người viết ra.
Quá trình điều tra đã làm rõ: Cuối năm 2019, Vũ Thanh B thuê căn nhà cấp 4 tại khu phố NT, thị trấn V, huyện TL, tỉnh Hưng Yên của ông Doãn Đình D trú tại xã ĐĐ, huyện PC, tỉnh Hưng Yên để kinh doanh bán cafe và đặt tên là “Quán cafe 365”. Do khách ít nên B đã tổ chức hoạt động mua bán dâm tại quán. Để tổ chức hoạt động mua bán dâm, B đã thuê Phạm Thanh T làm nhiệm vụ quản lý, sắp xếp nhân viên nữ bán dâm, thu tiền của khách mua dâm và ghi chép sổ để thanh toán với nhân viên nữ bán dâm; Nguyễn Văn Q làm nhiệm vụ trông xe và cảnh giới hoạt động của quán; khi nào T không có mặt ở quán thì Q làm nhiệm vụ thay T. Đối với khách mua dâm thì B quy định thu tiền một lần mua dâm là 300.000 đồng, B trả cho nhân viên nữ bán dâm 120.000 đồng, B được hưởng 180.000 đồng. B chịu trách nhiệm chi phí ăn, ở cho T, Q cùng các nhân viên nữ tại quán. Số tiền thu được từ hoạt động bán dâm trong ngày của các nữ nhân viên, sau khi trừ đi chi phí sinh hoạt thì T giao lại cho B. Hàng ngày vào khoảng 20 giờ, B đến quán để chốt sổ thanh toán, số lần bán dâm của nhân viên nữ. Khi B bận, không đến quán được thì T chốt sổ vào cuối ngày và sử dụng số điện thoại 0981.463.561, 0345.390.656 hoặc ứng dụng Zalo để báo cáo các hoạt động của quán cho B qua số điện thọai 0965.653.653. B hứa sẽ trả công cho T và Q mỗi tháng là 5.000.000 đồng/1 người. Giữa B với T, Q và các nhân viên nữ bán dâm đều không ký hợp đồng lao động mà chỉ thỏa thuận với nhau bằng miệng.
Ngày 14/5/2021 T và Q đến làm ở quán cafe 365, cùng ngày có Quách Thị H (lấy tên là Loan), Lường Thị Hoài A, Nguyễn Thị H đến xin B cho làm tại quán, trong ngày A bán dâm 5 lần, Hà bán dâm 3 lần, Hương bán dâm 3 lần, số tiền thu được là 3.300.000 đồng. Ngày 15/5/2021 A bán dâm 4 lần, Hà bán dâm 5 lần, Hương bán dâm 4 lần, số tiền thu được là 3.900.000 đồng. Ngày 16/5/2021 A bán dâm 3 lần, Hà bán dâm 4 lần, Hương bán dâm 4 lần, số tiền thu được là 3.300.000 đồng. Ngày 17/5/2021 có Nguyễn Thị P (lấy tên là Hoài) đến xin làm tại quán, trong ngày A bán dâm 4 lần, Hà bán dâm 5 lần, Hương bán dâm 4 lần, Phương bán dâm 4 lần, số tiền thu được là 5.100.000 đồng. Ngày 18/5/2021 A bán dâm 3 lần, Hà bán dâm 3 lần, Hương bán dâm 1 lần, Phương bán dâm 1 lần, số tiền thu được là 2.400.000 đồng. Đến ngày 19/5/2021 có Phạm Thị Hồng H (lấy tên là Trang) đến xin làm nhân viên nữ bán dâm tại quán, T đồng ý; trong ngày Hà, Hương, Phương, Hạnh mỗi người bán dâm 1 lần, số tiền thu được là 1.200.000 đồng. Tổng số tiền thu được từ ngày 14/5/2021 đến ngày 19/5/2021 là 19.200.000 đồng, trong đó: Chi tiêu sinh hoạt cho quán là 2.050.000 đồng; T chi tạm ứng cho nhân viên nữ là 8.000.000 đồng; B chốt sổ tại quán và cầm số tiền 6.750.000 đồng, số tiền còn lại T cầm. Khi B không có mặt ở quán thì giao toàn bộ việc quản lý quán cho T tự quyết định.
Ngày 19/5/2021 khi biết quán cafe 365 bị công an bắt quả tang về hoạt động mại dâm, B bỏ trốn đến ngày 24/05/2021 đã ra đầu thú. Ngày 07/7/2021 B giao nộp số tiền thu được từ hoạt động chứa mại dâm là 6.750.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra các bị can Vũ Thanh B, Phạm Thanh T, Nguyễn Văn Q đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị can phù hợp với lời khai của các đối tượng mua bán dâm và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đối với 04 khách mua dâm tự khai là Nguyễn Văn H, Lương Văn Tuấn, Nguyễn Văn H, Nguyễn Nhật L; sau khi bị bắt quả tang về hành vi mua dâm, lợi dụng sơ hở đã bỏ trốn. Cơ quan điều tra chưa làm rõ được lý lịch, tiếp tục xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với Quách Thị H, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị P, Phạm Thị Hồng H, Lường Thị Hoài A có hành vi bán dâm. Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội - Công an tỉnh Hưng Yên đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với ông Doãn Đình D đã cho B thuê nhà để kinh doanh bán cafe, ông Duy không biết B tổ chức mua bán dâm, nên không có căn cứ xử lý.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 85/2021/HSST ngày 27 tháng 9 năm 2021, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên, quyết định:
Áp dụng điểm c, d khoản 2, khoản 5 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; 38; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Thanh B 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Chứa mại dâm”, được trừ đi ngày tạm giữ, tạm giam 01 tháng 05 ngày (từ ngày 24/5/2021 đến ngày 28/6/2021) bị cáo còn phải chấp hành 05 (năm) năm 04 (bốn) tháng 25 (hai mươi lăm) ngày; thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành.
Phạt bổ sung bị cáo Vũ Thanh B 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/10/2021, bị cáo Vũ Thanh B có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bị cáo Vũ Thanh B giữ nguyên kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và trình bày tại cấp phúc thẩm bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ mới như: Bị cáo được Công an huyện YM xác nhận về việc tố giác tội phạm, bị cáo đã nộp tiền phạt và án phí hình sự sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo từ 6-12 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Hưng Yên; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Thanh B tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trước Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; lời khai những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã đủ căn cứ kết luận: Với động cơ mục đích vụ lợi, từ ngày 14/5/2021 đến ngày 19/5/2021 tại quán cafe 365 thuộc địa phận thị trấn V, huyện TL, tỉnh Hưng Yên, Vũ Thanh B, Phạm Thanh T, Nguyễn Văn Q đã nhiều lần tổ chức cho các nhân viên nữ bán dâm. Ngày 19/5/2021, đã tổ chức cho 04 đôi nam nữ mua bán dâm tại quán, thì bị Cơ quan điều tra Công an tỉnh Hưng Yên phát hiện bắt quả tang. Tổng số tiền thu từ hoạt động chứa mại dâm là 21.600.000 đồng.
Tòa án cấp sơ thẩm xác định hành vi nêu trên của bị cáo cấu thành tội: “Chứa mại dâm” với tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên”, “Chứa mại dâm 4 người trở lên”, được quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự là có cơ sở.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Vũ Thanh B, Hội đồng xét xử thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến thuần phong, mỹ tục và đạo đức xã hội mà còn là nguyên nhân làm lây truyền các căn bệnh xã hội. Bản thân các bị cáo nhận thức đầy đủ về những điều cấm của pháp luật, nhưng chỉ vì động cơ vụ lợi mà bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi chứa mại dâm. Vì vậy, cần xét xử vụ án nghiêm minh, có một mức hình phạt thỏa đáng tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, nên cần có hình phạt tương xứng với vai trò của bị cáo để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Vũ Thanh B không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, Vũ Thanh B đến cơ quan điều tra đầu thú; trong giai đoạn chuẩn bị xét xử bị cáo tự nguyện nộp số tiền 19.200.000 đồng, tiền thu được từ hoạt động chứa mại dâm; anh trai bị cáo là người có công được tặng thưởng Huy chương chiến sỹ vẻ vang; nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo B 05 năm 06 tháng tù là có cơ sở. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo B xuất trình Văn bản số 1672 ngày 06/10/2021 của Công an huyện YM xác nhận bị cáo có công trình báo cơ quan Công an vào ngày 20/9/2021 về tụ điểm mua bán ma túy, chứa chấp và tàng trữ trái phép ma túy; bị cáo đã nộp 10.000.000 đồng tiền phạt và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm tại Biên lai số AA/2021/0000129 ngày 28/3/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại điện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà nội đề nghị giảm cho bị cáo B từ 6 tháng đến 12 tháng tù.
Do vậy, cần chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo B và đề nghị của đại điện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
[4].Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Thanh B; sửa bản án Bản án hình sự sơ thẩm số 85/2021/HSST ngày 27 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thanh B phạm tội “Chứa mại dâm”.
Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 327; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; 38; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Thanh B 04 (bốn) năm 09 (chín) tháng tù, được trừ đi ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/5/2021 đến ngày 28/6/2021; thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành.
2. Án phí: Bị cáo Vũ Thanh B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Ghi nhận bị cáo Vũ Thanh B đã nộp 10.200.000 đồng tiền phạt và án phí hình sự sơ thẩm tại Biên lai số AA/2021/0000129 ngày 28/3/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND tỉnh Hưng Yên; - VKSND tỉnh Hưng Yên; - Công an tỉnh Hưng Yên; - Cục T.H.A DS tỉnh Hưng Yên; - Bị cáo (theo địa chỉ); - Lưu HS, VT, Phòng HC-TP TANDCC. CÁC THẨM PHÁN Nguyễn Thế Lệ Lê Thị Thúy Bình | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Cường THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Cường |