- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Rồng+Đp - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn R; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C.
- Căn cứ chính? Điều 322 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN N DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 179/2021/HS-PT Ngày: 09-12-2021 |
N DAH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN N DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bình.
Các Thẩm phán: Ông Phan Thanh Tùng;
Bà Phạm Thị Thanh Giang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Huy Phong - Thư ký Tòa án Nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát N dân tỉnh Tây N tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Vương - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2021 tại Tòa án N dân tỉnh Tây N xét xử phúc thẩm C khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 160/2021/TLPT-HS ngày 25 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo Bùi Văn R cùng đồng phạm; do có kháng cáo của các bị cáo Bùi Văn R và Nguyễn Văn C đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 88/2021/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2021 của Tòa án N dân huyện T B, tỉnh Tây N.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Bùi Văn R (Tám R), sinh năm 1946, tại tỉnh Long A; nơi C trú: ấp Gò Đ, xã Mỏ C, huyện T B, tỉnh Tây N; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: C giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Nào (đã chết) và bà Hồ Thị C (đã chết); bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Kim L (là bị cáo trong vụ án) và có 04 người con; tiền án, tiền sự: không; N thân: tại Bản án số 50/2010/HS-ST ngày 13/9/2010, Tòa án N dân huyện T B, tỉnh Tây N tuyên phạt 8.000.000 (tám triệu) đồng về tội “Đnh bạc” đã chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 04/04/2011, đã được xóa án tích; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi Cư trú từ ngày 26/02/2021 cho đến nay; có mặt.
2. Nguyễn Văn C (Huôn), sinh năm 1972, tại tỉnh Long A; nơi C trú: ấp ThAh T, xã Mỏ C, huyện T B, tỉnh Tây N; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D (đã chết) và bà Đặng Thị G; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Đ (đã ly hôn), hiện chung sống không đăng ký kết hôn với Bùi Thị Bích Ah (là bị cáo trong vụ án) và có 02 người con; tiền án, tiền sự: không; N thân: tại Bản án số 140/2008/HSST ngày 12/9/2008, Tòa án N dân tỉnh Tây N tuyên phạt 07 (bảy) năm tù về tội “Buôn bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong toàn bộ bản án vào ngày 30/8/2013, đã được xóa án tích; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/02/2021 đến ngày 26/02/2021 chuyển tạm giam, ngày 17/05/2021 được thay thế biện pháp ngăn chặn từ Tạm giam sAg Bảo lĩnh, từ ngày 04/6/2021 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi C trú cho đến nay; có mặt.
Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo Nguyễn Thị Kim L, Trần Quốc H, Trần Hg GiAg, Trương ThAh Thua, Bùi Minh P, Bùi ThAh Bạch, Bùi Thị Hg, Trần C Định, Trần C N, Trương Thị Hồng H, Lê Hoài P, Nguyễn Văn H, Trần Tuấn V, Đặng Minh H (Cu), Nguyễn Thành H, Huỳnh Thị Kim TH, Nguyễn Văn QuA, Bùi Thị Bích Ah, Nguyễn C Thảo, Nguyễn Phước H, Mai Hồng P và Nguyễn Văn Đ; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quA ông Đặng Minh C, Ah Trần C N và chị Nguyễn Thị H; không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Văn R cùng vợ là Nguyễn Thị Kim L bán nước tại nhà thuộc ấp Gò Đ, xã Mỏ C, huyện T B, tỉnh Tây N, lợi dụng việc Tết Nguyên Đn 2021, tại quán nước có nhiều người tụ tập nên R cùng vợ chuẩn bị một số dụng cụ lắc tài xỉu, tập hợp nhiều người Đ tổ chức lắc tài xỉu ăn tiền nhằm mục đích thu tiền xâu và bán nước kiếm lời, sòng tài xỉu hoạt động từ ngày 15/02/2021 đến ngày 17/02/2021 thì bị bắt. Cụ thể, khoảng 10 giờ ngày 17/02/2021, sau khi thuê H, GiAg cAh đường thì R lấy số tiền 26.400.000 đồng từ L đây là số tiền hùn còn lại của R, Nguyễn Văn C và Trương ThAh Thua ngày 16/02/2021 Đ làm cái. R và C thay phiên nhau làm cái lắc tài xỉu còn Thua đứng chung chi, làm cái tài xỉu được khoảng 30 phút thì nghỉ, kết quả thắng chia mỗi người làm cái số tiền 10.900.000 đồng. Sau đó C tiếp tục hùn tiền với Bùi Minh P mỗi người 15.000.000 đồng làm cái được 30 phút thì thua hết tiền. C tiếp tục hùn tiền với Bùi ThAh Bạch mỗi người 5.000.000 đồng làm cái đến khoảng 16 giờ 50 phút cùng ngày thì bị C A huyện T B bắt quả tAg, thu giữ tại cH bạc 400.000 đồng cùng nhiều tAg vật khác.
Hành vi cụ thể của từng bị cáo như sau:
1. Đối với 04 bị cáo tổ chức sòng tài xỉu: Bùi Văn R là người chuẩn bị dụng cụ lắc tài xỉu, rủ rê và tập hợp nhiều người tham gia Đnh bạc; đồng thời R còn thuê Trần Quốc H, Trần Hg GiAg cAh đường, C giới cho sòng tài xỉu hoạt động, mỗi ngày trả tiền C cho H, GiAg mỗi người 200.000 đồng. R cùng vợ là Nguyễn Thị Kim L thu tiền xâu mỗi khi nhà cái “bão” từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng. Từ ngày 15/02/2021 đến khi bị bắt, mỗi ngày thu tiền xâu từ 400.000 đồng đến 500.000 đồng, vào ngày 17/02/2021, L đã thu tiền xâu được 1.100.000 đồng.
Trần Quốc H là người được Bùi Văn R thuê cAh đường, C giới cho sòng tài xỉu hoạt động, H cAh đường từ ngày 16/02/2021 đến ngày bi bắt, mỗi ngày nhận tiền C 200.000 đồng. H đã nhận được tiền C vào ngày 16/02/2021, ngày 17/02/2021 chưa nhận tiền C thì bị bắt.
Trần Hg GiAg người được Bùi Văn R thuê cAh đường, C giới cho sòng tài xỉu hoạt động. GiAg cAh đường từ ngày 15/02/2021 đến ngày bị bắt, mỗi ngày nhận tiền C 200.000 đồng. GiAg đã nhận được tiền C vào ngày 15/02/2021 và 16/02/2021, ngày 17/02/2021 chưa nhận tiền C thì bị bắt.
2. Đối với 05 bị cáo làm cái tài xỉu: Vào ngày 17/02/2021, sòng tài xỉu có 03 ca làm cái, cụ thể như sau:
Ca thứ nhất, do Bùi Văn R, Nguyễn Văn C, Trương ThAh Thua sử dụng 26.400.000 đồng là số tiền hùn còn lại của ngày 16/02/2021 Đ làm cái tài xỉu. R và C thay phiên nhau làm cái lắc tài xỉu còn Thua đứng chung chi, làm cái được khoảng 30 phút thì thắng, chia cho mỗi người 10.900.000 đồng. Những người tham gia Đnh bạc ở ca này gồm có: Bùi Thị Hg, Lê Hoài P.
Ca thứ hai, do Nguyễn Văn C dùng số tiền 20.000.000 đồng mAg theo vào sáng ngày 17/02/2021 hùn tiền với Bùi Minh P làm cái, mỗi người 15.000.000 đồng, C ứng tiền trước cho P, làm cái khoảng 30 phút thì thua hết tiền. Những người tham gia Đnh bạc ở ca này gồm có: Bùi Thị Hg, Lê Hoài P, Nguyễn Phước H, Trần Tuấn V, Bùi Thị Bích Ah, Huỳnh Thị Kim TH.
Ca thứ ba, do Nguyễn Văn C hùn tiền với Bùi ThAh Bạch làm cái, mỗi người 5.000.000 đồng, làm cái cho đến khi bị bắt quả tAg thì thua hết 700.000 đồng. Những người tham gia Đnh bạc ở ca này gồm có: Bùi Thị Hg, Lê Hoài P, Trần Văn N, Đặng Minh H, Nguyễn C Thảo, Nguyễn Văn H, Trần C Định, Nguyễn Thành H, Nguyễn Văn QuA, Trương ThAh Thua, Trương Thị Hồng H, Huỳnh Thị Kim TH, Nguyễn Văn Đ, Mai Hồng P.
3. Đối với 16 bị cáo tham gia chơi tài xỉu: Bùi Thị Hg mAg theo 36.150.000 đồng tham gia chơi tài xỉu, tham gia từ ca làm cái đầu tiền cho đến khi bị bắt thua hết 5.500.000 đồng, bị tạm giữ 30.650.000 đồng.
Trần C Định mAg theo 10.010.000 đồng tham gia ở ca làm cái của Nguyễn Văn C và Bùi ThAh Bạch, chơi đến khi bị bắt huề vốn, bị tạm giữ 10.010.000 đồng.
Trần Văn N mAg theo 6.875.000 đồng tham gia chơi tài xỉu ở ca làm cái của Nguyễn Văn C và Bùi ThAh Bạch, chơi đến khi bị bắt thua 50.000 đồng bị tạm giữ 6.825.000 đồng.
Trương Thị Hồng H mAg theo 2.850.000 đồng tham gia ở ca làm cái của Nguyễn Văn C và Bùi ThAh Bạch, kết quả thua 100.000 đồng, bị tạm giữ 2.750.000 đồng.
Lê Hoài P mAg theo 1.900.000 đồng tham gia từ ca làm cái đầu tiên đến khi bị bắt thua 100.000 đồng, bị tạm giữ 1.800.000 đồng.
Nguyễn Văn H mAg theo 1.700.000 đồng tham gia ca làm cái của Nguyễn Văn C và Bùi ThAh Bạch, thua hết 300.000 đồng, bị tạm giữ 1.400.000 đồng.
Trần Tuấn V mAg theo 1.200.000 đồng tham gia ở ca làm cái của Nguyễn Văn C và Bùi Minh P, kết quả thua 200.000 đồng nên bỏ về trước.
Đặng Minh H mAg theo 1.000.000 đồng tham gia chơi tài xỉu ở ca làm cái của Nguyễn Văn C và Bùi ThAh Bạch thua hết 930.000 đồng, bị tạm giữ 70.000 đồng.
Nguyễn Thành H không mAg theo tiền, mượn của Định 1.000.000 đồng hùn với Định tham gia chơi tài xỉu ở ca làm cái của Nguyễn Văn C và Bùi ThAh Bạch, chơi đến khi bị bắt chưa biết thắng thua nên chưa chia tiền.
Huỳnh Thị Kim TH mAg theo 710.000 đồng tham gia ở ca làm cái của Nguyễn Văn C và Bùi ThAh Bạch, kết quả thua hết 700.000 đồng thì đứng xem cho đến khi bị bắt, bị tạm giữ 10.000 đồng.
Nguyễn Văn QuA mAg theo 500.000 đồng tham gia ở ca làm cái của Nguyễn Văn C và Bùi ThAh Bạch, kết quả thua 300.000 đồng nên bỏ về trước, còn 200.000 đồng đã tiêu xài cá N hết.
Bùi Thị Bích Ah mAg theo 500.000 đồng tham gia ở ca làm cái của Nguyễn Văn C và Bùi Minh P, kết quả thua hết 500.000 đồng nên bỏ về trước.
Nguyễn C Thảo mAg theo 300.000 đồng tham gia chơi tài xỉu ở ca làm cái của Nguyễn Văn C và Bùi ThAh Bạch, đã thua hết tiền.
Nguyễn Phước H mAg theo 300.000 đồng tham gia ca làm cái của Nguyễn Văn C và Bùi Minh P, đã thua hết tiền nên đứng xem.
Mai Hồng P 300.000 đồng tham gia ở ca làm cái của Nguyễn Văn C và Bùi ThAh Bạch, kết quả thua 150.000 đồng nên bỏ về trước.
Nguyễn Văn Đ mAg theo 200.000 đồng tham gia ở ca làm cái của Nguyễn Văn C và Bùi ThAh Bạch thì thua hết tiền nên bỏ về trước.
Trương ThAh Thua sau khi làm cái ở ca thứ nhất thì về nhà sau đó đến khoảng 16 giờ cùng ngày quay lại sòng tài xỉu, mAg theo 7.550.000 đồng tham gia ở ca làm cái của Nguyễn Văn C và Bùi ThAh Bạch kết quả thua 100.000 đồng thì bị bắt.
Tổng số tiền các bị cáo dùng vào việc Đnh bạc là 132.295.000 đồng. Trong đó Bùi Văn R dùng 8.800.000 đồng, Nguyễn Văn C dùng 28.800.000 đồng, Trương ThAh Thua dùng 8.800.000 đồng, Bùi Minh P dùng 15.000.000 đồng, Bùi ThAh Bạch dùng 5.000.000 đồng Đ làm cái Đnh bạc; Bùi Thị Hg dùng 36.150.000 đồng, Trần C Định dùng 10.010.000 đồng, Trần Văn N dùng 6.875.000 đồng, Trương Thị Hồng H dùng 2.850.000 đồng, Lê Hoài P dùng 1.900.000 đồng, Nguyễn Văn H dùng 1.700.000 đồng, Trần Tuấn V dùng 1.200.000 đồng, Đặng Minh H dùng 1.000.000 đồng, Nguyễn Thành H dùng 1.000.000, Huỳnh Thị Kim TH dùng 710.000 đồng, Nguyễn Văn QuA dùng 500.000 đồng, Bùi Thị Bích Ah dùng 500.000 đồn, Nguyễn C Thảo dùng 300.000 đồng, Nguyễn Phước H dùng 300.000 đồng, Mai Hồng P dùng 300.000 đồng và Nguyễn Văn Đ dùng 200.000 đồng Đ Đnh bạc; thu giữ tại cH bạc 400.000 đồng.
Quá trình điều tra, các bị cáo Bùi Văn R, Nguyễn Văn C, Trương ThAh Thua khai nhận vào khoảng 10 giờ ngày 16/02/2021, Bùi Văn R thuê Trần Quốc H và Trần Hg GiAg cAh đường, C giới cho sòng tài xỉu. R cùng với Nguyễn Văn C, Trương ThAh Thua hùn mỗi người 10.000.000 đồng làm cái tài xỉu cho nhiều người tham gia Đnh bạc. R là người chuẩn bị dụng cụ lắc tài xỉu đưa cho Nguyễn Văn C làm cái, C là người trực tiếp lắc tài xỉu còn Thua chung chi. Sòng tài xỉu hoạt động đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày thì R kêu nghỉ làm cái, số tiền còn lại là 26.400.000 đồng. Tuy nhiên, các bị cáo khác không thừa nhận có tham gia Đnh bạc ngày 16/02/2021 và không có chứng cứ nào khác Đ chứng minh.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 88/2021/HS-ST ngày 15/9/2021 của Tòa án N dân huyện T B, tỉnh Tây N đã xử:
1. Căn cứ điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 322; điểm o, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Bùi Văn R (Tám R) 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức Đnh bạc”;
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm o, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Bùi Văn R (Tám R) 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”
Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Bùi Văn R phải chấp hành chung cho hai tội “Đánh bạc” và tội “Tổ chức Đánh bạc” là 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời giA chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C (Huôn) 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”; thời giA chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án, nH được trừ thời giA bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/02/2021 đến ngày 17/05/2021.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Thị Kim L, Trần Quốc H, Trần Hg GiAg, Trương ThAh Thua, Bùi Minh P, Bùi ThAh Bạch, Bùi Thị Hg, Trần C Định, Trần C N, Trương Thị Hồng H, Lê Hoài P, Nguyễn Văn H, Trần Tuấn V, Đặng Minh H (Cu), Nguyễn Thành H, Huỳnh Thị Kim TH, Nguyễn Văn QuA, Bùi Thị Bích Ah, Nguyễn C Thảo, Nguyễn Phước H, Mai Hồng P và Nguyễn Văn Đ; hình phạt bổ sung; khấu trừ thu nhập; xử lý vật chứng; xử lý các tài sản bị kê B; án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 22 tháng 9 năm 2021, bị cáo Bùi Văn R có đơn kháng cáo, nội dung xin được giảm nhẹ hình phạt tù giam 15 tháng Đ được hưởng phạt cải tạo không giam giữ.
Ngày 27 tháng 9 năm 2021, bị cáo Nguyễn Văn C có đơn kháng cáo, nội dung xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, bị cáo R, C giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát N dân tỉnh Tây N đề nghị: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo R, C. Sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo R về tội “Đnh bạc” mức hình phạt từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù. Giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo C về tội “Đnh bạc” mức hình phạt từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù.
Các bị cáo R, C không trAh luận.
Lời nói sau cùng của các bị cáo:
Bị cáo R: Bị cáo đã lớn tuổi, rất nhiều bệnh nặng, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo.
Bị cáo C: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trAh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Xét các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quA tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đều hợp pháp. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Bùi Văn R và Nguyễn Văn C xác định trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quA tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm.
Về tội dAh: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Bùi Văn R thừa nhận hành vi phạm tội “Tổ chức Đnh bạc” và “Đnh bạc” như nội dung bản án sơ thẩm; bị cáo Nguyễn Văn C thừa nhận hành vi phạm tội “Đnh bạc” như nội dung bản án sơ thẩm. Xét lời nhận tội của các bị cáo phù hợp B bản bắt người phạm tội quả tAg, lời khai của các bị cáo tại Cơ quA điều tra, lời khai của các bị cáo khác cùng các tài chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ kết luận:
Bị cáo Bùi Văn R cùng vợ là bị cáo Nguyễn Thị Kim L bán nước tại nhà thuộc ấp Gò Đ, xã Mỏ C, huyện T B, tỉnh Tây N, R cùng vợ chuẩn bị một số dụng cụ lắc tài xỉu, tập hợp nhiều người Đ tổ chức lắc tài xỉu ăn tiền nhằm mục đích thu tiền xâu và bán nước kiếm lời, ngày 17/02/2021 thì bị bắt. Cụ thể, khoảng 10 giờ ngày 17/02/2021, sau khi thuê H, GiAg cAh đường thì R cùng C và Thua làm cái lắc tài xỉu. R và C thay phiên nhau làm cái lắc tài xỉu còn Thua đứng chung chi, làm cái tài xỉu được khoảng 30 phút thì nghỉ, kết quả thắng chia mỗi người làm cái số tiền 10.900.000 đồng. Sau đó C tiếp tục hùn tiền với P mỗi người 15.000.000 đồng làm cái được 30 phút thì thua hết tiền. C tiếp tục hùn tiền với Bạch mỗi người 5.000.000 đồng làm cái đến khoảng 16 giờ 50 phút cùng ngày thì bị C A bắt quả tAg, thu giữ tại cH bạc 400.000 đồng cùng nhiều tAg vật khác.
Tổng số tiền các bị cáo dùng vào việc Đnh bạc là 132.295.000 đồng. Trong đó Bùi Văn R dùng 8.800.000 đồng và Nguyễn Văn C dùng 28.800.000 đồng Đ làm cái lắc tài xỉu. Hành vi của bị cáo R có đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức Đnh bạc” và “Đnh bạc” theo quy định tại điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 322 và điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo C có đủ yếu tố cấu thành tội “Đnh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Bản án Hình sự sơ thẩm số 88/2021/HS-ST ngày 15-9-2021 của Tòa án N dân huyện T B đã xử các bị cáo Bùi Văn R về tội “Tổ chức Đnh bạc” và “Đnh bạc” theo quy định tại điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 322 và điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Đnh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự; là có căn cứ, Đ tội.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tình hình trật tự, trị A tại địa P nên phải chịu trách nhiệm hình sự. Các bị cáo biết rõ hành vi Đnh bạc là vi phạm pháp luật nH nhằm thu lợi bất chính các bị cáo vẫn thực hiện. Trong vụ án này, bị cáo R không chỉ hùn tiền Đ làm cái lắc tài xỉu mà bị cáo còn là người trực tiếp tổ chức Đnh bạc nhằm mục đích thu tiền xâu kiếm lời; bị cáo C là người hùn tiền làm cái lắc tài xỉu.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và xử phạt bị cáo R 01 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức Đnh bạc”, 01 năm 03 tháng tù về tội “Đnh bạc”; xử phạt bị cáo C 01 năm 06 tháng tù về tội “Đnh bạc”; là tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội của các bị cáo gây ra.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo thì thấy rằng:
Bị cáo Bùi Văn R kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cung cấp “Đơn xin cứu xét” nội dung bị cáo bị bệnh HIV, bứu cổ, Đi tháo đường, tim mạch, khớp...kèm theo kết quả xét nghiệm. Bị cáo R là người cao tuổi, bản thân có nhiều bệnh hiểm nghèo, sức khỏe yếu. Do đó, có căn cứ chấp nhận 01 phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt về tội “Đnh bạc”.
Bị cáo Nguyễn Văn C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nH không cung cấp chứng cứ mới nên không có căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C; chấp nhận 01 phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo Bùi Văn R. Sửa bản án sơ thẩm.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn C kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm theo quy định; bị cáo R không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn R; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C.
2. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 88/2021/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2021 của Tòa án N dân huyện T B, tỉnh Tây N.
3. Căn cứ điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 322; điểm b khoản 2 Điều 321; điểm o, s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Bùi Văn R (Tám R) 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức Đnh bạc”. 09 (chín) tháng tù về tội “Đnh bạc”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Bùi Văn R phải chấp hành chung cho hai tội “Đnh bạc” và tội “Tổ chức Đnh bạc” là 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời giA chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
4. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C (Huôn) 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Đnh bạc”. Thời giA chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án, nH được trừ thời giA bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/02/2021 đến ngày 17/05/2021.
5. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng; bị cáo Bùi Văn R không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT 1 (TADTC); - VKSND. TTN; - TAD. huyện; - C A huyện; - Chi cục THADSH. huyện; - Phòng lý lịch STP. TTN; - Phòng KTNV. TATTN; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu tập án HSPT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Bình |