vanban.org

Bản án 179/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” của nguyên đơn chị Đỗ Thị D. Chị Đỗ Thị D được ly hôn với anh Nguyễn Văn M. Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Tiến C, sinh ngày 13/11/1995 và Nguyễn Tiến T, sinh ngày 23/9/2005. Giao cháu Nguyễn Tiến T, sinh ngày 23/9/2005 c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Đỗ Thị D khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với anh Nguyễn Văn M"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 217/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 20 - 8 -2020
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên Tòa: Bà Trần Thị Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trương Thị Thìn

Ông Trần Văn Chánh

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa: Bà Đoàn Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 736/2020/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2020, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 187/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 247/2020/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị D, sinh năm 1976

HKTT: Số 17, tổ 29, khu phố 3, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Địa chỉ liên lạc: Số 469A, tổ 24, khu phố 3, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1970

Địa chỉ: Số 17, tổ 29, khu phố 3, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Chị D có đơn xin vắng mặt, anh M vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn chị Đỗ Thị D trình bày:

Chị và anh M tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn vào năm 1994 tại UBND xã Xuân Tây, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Chị và anh M đã sống ly thân từ tháng 7/2019 cho đến nay. Nay tình cảm của chị giành cho anh M không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin ly hôn với anh M.

Về con chung: Chị và anh M có 02 con chung là Nguyễn Tiến C, sinh ngày 13/11/1995 và Nguyễn Tiến T, sinh ngày 23/9/2005. Ly hôn, chị yêu cầu đươc trực tiếp nuôi dưỡng cháu T, tạm thời không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con. Cháu C đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân, về con chung, về tài sản chung, nợ chung, nguyên nhân mẫu thuẫn của vợ chồng anh đồng ý với trình bày của chị D. Vợ chồng chung sống có mâu thuẫn nhỏ, từ năm 2019 đến nay vợ chồng sống ly thân. Nay chị D khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh thì anh không đồng ý.

Về con chung: Có 02 con là Nguyễn Tiến C, sinh ngày 13/11/1995 và Nguyễn Tiến T, sinh ngày 23/9/2005. Nếu T hợp phải ly hôn thì anh tôn trọng ý kiến của cháu T. Anh không có ý kiến về cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau buổi làm việc ngày 18/3/2020, Tòa án có mời anh M đến Tòa để làm việc, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải nhiều lần nhưng anh M đều vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm: Đảm bảo theo đúng quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết tranh chấp: Cuộc sống vợ chồng giữa chị D và anh M phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị D; giao con chung là cháu Nguyễn Tiến T, sinh ngày 23/9/2005 cho chị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng, tạm thời anh M không cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Nguyễn Tiến C đã trưởng thành không đặt ra xem xét giải quyết. Tài sản chung: chị D và anh M trình bày tự thỏa thuận, nợ chung chị D và anh M trình bày không có nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo qui định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Đỗ Thị D khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với anh Nguyễn Văn M hiện đang trú tại: Số 17, tổ 29, khu phố 3, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho anh M đầy đủ, tuy nhiên anh M vắng mặt không có lý đo chính đáng, nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét nguyên đơn chị Đỗ Thị D có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh M tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn với nhau vào năm 1994 tại UBND xã Xuân Tây, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ vào Điều 5 và Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 nên xác định là hôn nhân hợp pháp.

Theo xác minh tại địa phương xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D và anh M có xảy ra hay không thì địa phương không nắm được vì chị D và anh M không yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập anh M đến Toà để làm việc, dự phiên họp về Tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để hai anh chị có điều kiện gặp gỡ thỏa thuận, đoàn tụ nhưng anh M không đến. Điều này chứng tỏ chị D và anh M không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị D và anh M là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là căn cứ để Tòa án cho ly hôn. Vì vậy, cần chấp nhận cho chị D được ly hôn với anh M.

Về con chung: Chị D và anh M có 02 con là Nguyễn Tiến C, sinh ngày 13/11/1995 và Nguyễn Tiến T, sinh ngày 23/9/2005. Chị D có nguyện vọng đươc trực tiếp nuôi dưỡng cháu T. Cháu T có nguyện vọng ở với mẹ, đồng thời anh M có ý kiến là tôn trọng quyền lựa chọn của con. Do đó, giao cháu Nguyễn Tiến T cho chị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Tạm thời anh M không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Cháu Nguyễn Tiến C đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị D và anh M trình bày tự thỏa thuận, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Chị D và anh M trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Đỗ Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng Điều 357, Điều 467 của Bộ luật dân sự.

- Áp dụng các Điều 5 và Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57 và Điều 131 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” của nguyên đơn chị Đỗ Thị D. Chị Đỗ Thị D được ly hôn với anh Nguyễn Văn M.

2. Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Tiến C, sinh ngày 13/11/1995 và Nguyễn Tiến T, sinh ngày 23/9/2005. Giao cháu Nguyễn Tiến T, sinh ngày 23/9/2005 cho chị Đỗ Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Tạm thời anh M không phải cấp dưỡng nuôi cháu T.

Đối với cháu Nguyễn Tiến C đã trưởng thành nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Không ai được ngăn cản quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung của anh Nguyễn Văn M.

Khi cần thiết các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên.

Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

3. Về án phí: Chị Đỗ Thị D phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn và được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí mà chị D đã nộp theo phiếu thu số 0008486 ngày 21/02/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Chị D đã nộp xong án phí.

Chị Đỗ Thị D và anh Nguyễn Văn M có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ