- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tòng Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Tòng Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 179/2019/HSST. Ngày: 17/10/2019. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Văn Lương.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bạc Thị Kiên;
2. Ông Lò Văn Thương.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thúy Dần - Thẩm tra viên, Toà án nhân dân huyện Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Đỗ Thành Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 17/10/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 196/2019/TLST- HS ngày 12/9/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 182/2019/QĐXXST- HS ngày 04/10/2019 đối với bị cáo: Họ và tên: Tòng Văn T, tên gọi khác: Không, sinh năm: 1969, tại Điện Biên.
Nơi cư trú: Bản N, xã Na T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 4/10; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tòng Văn C (đã chết) và bà: Tòng Thị H, sinh năm1925; Có vợ: Tòng Thị P, sinh năm 1965 và 02 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1993: Chưa có; Tiền án: 02 tiền án; tiền sự: Không; Nhân thân: Bị cáo đã có án tích, không bị xử lý hành chính; bị bắt từ ngày 30/6/2019 cho đến nay. "có mặt".
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Tòng Thị P, sinh năm 1965.
Địa chỉ: Bản N, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 30/6/2019, bị cáo đang ở nhà thì có Lò Văn T1 đi qua, bị cáo gọi T1 vào và hỏi "đi đâu đấy", T1 bảo " đi H mua ma túy về sử dụng" , bị cáo bảo "muốn đi nhưng không có tiền". Nghe vậy, T1 nói " cứ đi đi cháu khác mua một gói", bị cáo đồng ý và lấy xe máy BKS 27B1-418.87 của bị cáo cho T1 đèo bị cáo đi H, xã N, huyện Đ. Đến giữa bản T1 dừng xe và bảo bị cáo "Đợi cháu ở đây cháu đi mua Heroine". T1 đi mua ma túy khoảng 10 phút sau quay lại đưa cho bị cáo một gói Heroine, bị cáo dùng bật hàn kín lại rồi cầm tay phải và nói với T1 "về thôi", T1 điều khiển xe máy còn bị cáo ngồi phía sau đi về nhà. Khi bị cáo và T1 đi được một đoạn thuộc bản H, xã N thì bị tổ công tác Công an huyện Điện Biên phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại tay phải của bị cáo 01 gói Heroine.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng ngày 01/7/2019 đã xác định:
Số chất bột màu trắng thu giữ của bị cáo có khối lượng là 0,08 gam;
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản kết luận giám định số: 743/GĐ – PC09 ngày 08/7/2019, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận:
Mẫu chất bột màu trắng được trích từ vật chứng thu giữ của Tòng Văn T gửi giám định là Heroine;
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng giám định nêu trên.
Tại bản cáo trạng số: 191/CT-VKS-HĐB ngày 12/9/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên đã truy tố bị cáo Tòng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Điện Biên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249/BLHS, điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS; Đề nghị xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS về xử lý vật chứng. Bị cáo được miễn án phí HSST. Tịch thu 1/2 giá trị xe máy BKS 27B1-418.87 sung ngân sách nhà nước.
Ý kiến của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Gia đình tôi thuộc hộ nghèo, tài sản không có gì, chỉ có xe máy cũ không đáng giá bao nhiêu nhưng nó là phương tiện duy nhất để đi lại của gia đình, tôi có nguyện vọng xin lại chiếc xe máy để làm phương tiện đi lại mong HĐXX xem xét.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Tôi biết hành vi của tôi là vi phạm pháp luật, tôi xin Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình của tôi, cho tôi xin giảm nhẹ hình phạt và cho tôi xin lại chiếc xe máy là phương tiện duy nhất của vợ chồng tôi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi của bị cáo: Ngày 30/6/2019, bị cáo bị bắt quả tang khi đang cất giấu 0,08 gam Heroine mang về để sử dụng thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội của tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, kết luận giám định, kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố. Với hành vi và khối lượng ma túy bị thu giữ thì bị cáo đã phạm vào tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249/BLHS. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.
. Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội; đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bởi vì, ma túy là một hiểm họa của nhân loại, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác. Chính vì thế mà Nhà nước ta đã nghiêm cấm mọi hành vi có liên quan đến ma túy. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, song bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Tội phạm mà bị cáo vi phạm là nghiêm trọng, nên cần phải xử lý theo quy định của pháp luật.
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS. Để cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian.
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Công an huyện Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS là phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có khả năng thi hành. Cho nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ có được là do bị cáo T1 mua cho bị cáo, do T1 hiện nay không có mặt ở địa phương nên CQĐT sẽ tiếp tục làm rõ và xử lý sau.
[ 7]. Bị cáo đã dùng xe máy BKS 27B1-418.87 vào việc phạm tội, nhưng xe máy này là tài sản chung của vợ chồng của bị cáo và Tòng Thị P. Piến không biết việc bị cáo dùng vào việc phạm tội, nên tịch thu1/2 giá trị của xe và trả lại cho bà P 1/2 giá trị chiếc xe trên là đúng quy định của pháp luật.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136/BLTTHS, nhưng bị cáo là người dân tộc thiểu số hiện đang cư trú tại xã Na Tông, huyện Điện Biên thuộc xã đặc biệt khó khăn theo Quyết định 900/QĐ-TTg ngày 20/6/2017 của chính phủ và có đơn xin miễn án phí HSST. Căn cứ theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo được miễn án phí HSST.
. Vật chứng: 0,08 gam Heroine đã gửi giám định toàn bộ không hoàn lại, nên không còn để xử lý. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 1/2 giá trị chiếc xe mô tô BKS 27B1-418.87 do bị cáo dùng vào việc phạm tội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS; Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan 1/2 giá trị chiếc xe mô tô trên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS:
1.Tuyên bố: Bị cáo Tòng Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt bị cáo Tòng Văn T 16 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt ngày (30/6/2019).
3. Về án phí: Căn cứ theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo được miễn án phí HSST.
4. Về vật chứng: Căn cứ a khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS: Tịch thu sung ngân sách nhà nước 1/2 giá trị chiếc xe mô tô; Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tòng Thị P, sinh năm 1965. Địa chỉ: Bản N, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên 1/2 giá trị chiếc xe mô tô BKS 27B1-418.87 số khung RPEXCH8PEGA 183565, số máy VDEJQ152FMHB183565; màu sơn đen xanh; nhãn hiệu: DETECH đã qua sử dụng. (Vật chứng đã được công an huyện Điện Biên chuyển cho chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên ngày 23/9/2019).
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về phần trực tiếp có liên quan trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND T Điện Biên - VKSND H Điện Biên - VKS tỉnh. - CQĐTCA H Điện Biên - Phòng HNVCA T Điện Biên - Sở TP Điện Biên - THA HS tỉnh ĐB. - Nhà tạm giữ CAHĐB; - Chi cục THADSHĐB; - Bị cáo; Lưu. - Lưu. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣờng Văn Lƣơng |