- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TRAN QUOC T - NG CAM L"
- Tòa quyết gì? 1/- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 179/2019/HNGĐ-ST Ngày: 06/6/2019 V/v Tranh chấp Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Anh Tuấn
2. Ông Lê Phước Hậu.
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung – Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 39/2019/TLST-HNGĐ ngày 17/01/2019 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 210/2019/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 260/2019/QĐST-DS ngày 16 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Quốc T, sinh năm 1987 – Có mặt;
Bị đơn: Bà Nguyễn Cẩm L, sinh năm 1990 – Vắng mặt;
Cùng địa chỉ: X, Ấp 2, xã Long Thới, huyện Nhà Bè, Tp. Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 08/01/2019 và bản tự khai ngày 22/3/2019, nguyên đơn ông Trần Quốc T trình bày:
Ông và bà Nguyễn Cẩm L tự nguyện tìm hiểu và sống chung với nhau từ năm 2011, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại xã Long Thới, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo ông T vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu, đến năm 2016 thì cả hai bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, cụ thể là thường xuyên cãi nhau về cách nuôi dạy con, bà L có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác, giữa họ cũng đã có con chung. Do các mâu thuẫn cứ tiếp tục xảy ra mà không thể khắc phục được nên bà L đã bỏ nhà đi từ giữa năm 2018 đến nay, thỉnh thoảng mới về thăm con. Cả hai vợ chồng đều không ai muốn hàn gắn gia đình, bản thân bà L cũng muốn được ly hôn nhưng do điều kiện công việc bà L không thể đến Tòa án được. Nhận thấy tình cảm vợ chồng đến nay đã không còn nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Cẩm L.
Về con chung: Có 01 con chung là trẻ Trần Ngọc Phương L, sinh ngày 15/7/2012. Sau khi ly hôn, ông T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông T không yêu cầu bà L cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Ông T xác định không có.
Về nợ chung: Ông T xác định không có.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, bà Nguyễn Cẩm L hoàn toàn không có mặt để trình bày ý kiến hay đưa ra yêu cầu của mình.
* Phát biểu của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng:
Về hình thức, qua kiểm sát giải quyết vụ án thì từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng về phiên tòa sơ thẩm. Tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tuân thủ nội quy phiên tòa. Việc xét xử vắng mặt các đương sự đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung, qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và qua phần hỏi, tranh luận tại phiên tòa hôm nay, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của ông T là hoàn toàn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Ông Trần Quốc T yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Cẩm Liên. Do bà L có địa chỉ cư trú tại 248, Ấp 2, xã Long Thới, huyện Nhà Bè, Tp. Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do. Theo kết quả xác minh tại nơi cư trú của bà L cho thấy bà L có đăng ký thường trú tại địa chỉ X, Ấp 2, xã Long Thới, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không thực tế cư trú từ tháng 05/2018 đến nay, chỉ thỉnh thoảng về thăm con và không thông báo địa chỉ nơi đến nên thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ theo khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn hôm nay.
Về yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
Ông Trần Quốc T xin ly hôn với bà Nguyễn Cẩm L với lý do mâu thuẫn vợ chồng xảy ra từ năm 2016, đỉnh điểm là từ giữa năm 2018 đến nay do bất đồng quan điểm sống về cách nuôi dạy con, bà L ngoại tình và có con riêng với người khác, cả hai đã không còn quan tâm, yêu thương nhau và đã sống ly thân từ tháng 05/2018 đến nay mà vẫn không hàn gắn lại được. Thỉnh thoảng bà L có về thăm con nhưng vợ chồng không nói chuyện với nhau.
Theo kết quả trả lời xác minh ngày 10/4/2019 của Hội L hiệp phụ nữ xã Long Thới, huyện Nhà Bè cho biết: “Anh T và chị L chưa có đơn gửi về Hội L hiệp phụ nữ xã. Hội chưa nhận được bất kỳ thông tin nào về vụ việc của anh T và chị Liên”.
Theo kết quả trả lời xác minh ngày 01/4/2019 của Công an xã Long Thới, huyện Nhà Bè cho biết: “Đương sự Nguyễn Cẩm L, sinh năm 1990 có đăng ký thường trú tại địa chỉ X đường Nguyễn Văn Tạo, Tổ 7, Ấp 2, xã Long Thới, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh. Từ tháng 05/2018 cho đến nay thì không có cư trú tại địa phương, thỉnh thoảng thì có về thăm con nhưng không khai nơi cư trú mới”.
Theo kết quả xác nhận ngày 25/4/2019 của Ban nhân dân Ấp 2, xã Long Thới, huyện Nhà Bè cho biết: “Bà Nguyễn Cẩm L hiện nay không còn thường trú tại địa phương là đúng sự thật”.
Xét, trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bà L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ tất cả văn bản tố tụng để tham gia hòa giải, hàn gắn gia đình với ông T cũng như đưa ra ý kiến hay yêu cầu của mình, tuy nhiên bà L vẫn vắng mặt không lý do. Việc bà L bỏ nhà đi từ đầu tháng 5/2018 đến nay chứng tỏ không còn quan tâm đến gia đình, cũng như không có thiện chí xây dựng hàn gắn tình cảm vợ chồng với ông Tấn. Như vậy, có đủ cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa ông T và bà L là hoàn toàn có thật và khả năng hàn gắn không còn, đời sống hôn nhân đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của ông T đối với bà Liên.
Về con chung: Ông T yêu cầu nuôi con, tại Bản tự khai ngày 22/3/2019, trẻ L cũng trình bày nguyện vọng được ở với bố. Xét trẻ Trần Ngọc Phương L hiện đang còn nhỏ, lại đang trực tiếp do ông T chăm sóc nuôi dưỡng kể từ lúc hai vợ chồng sống ly thân đến nay nên việc giao con cho ông T tiếp tục nuôi là phù hợp. Ghi nhận việc ông T không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông T xác định không có. Nếu sau này bà L có yêu cầu sẽ được xem xét trong vụ kiện khác.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng ông T có nghĩa vụ phải nộp, được cấn trừ vào tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai số 0033708 ngày 17/01/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, ông T đã nộp đủ án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35 và Điều 39; khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 57, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117, 118 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016;
Tuyên xử:
1/- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:
- Về quan hệ vợ chồng: Ông Trần Quốc T được ly hôn với bà Nguyễn Cẩm Liên.
- Về con chung: Có 01 (một) con chung là trẻ Trần Ngọc Phương L, sinh ngày 15/7/2012. Giao trẻ Phương L cho ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Ghi nhận việc ông T không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
2/- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng ông Trần Quốc T có nghĩa vụ phải nộp, được cấn trừ vào tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai số 0033708 ngày 17/01/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, ông T đã nộp đủ án phí.
3/- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
4/- Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TANDTP,VKSNDTP; - VKSND huyện Nhà Bè; - Chi cục THADS huyện Nhà Bè; - UBND xã Long Thới, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu HS,VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ LÊ THU HIỀN |