- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Xuân L phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cao Xuân L phạm tội Trộm cắp tài sản (chƣa đạt).
- Căn cứ chính? Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 18 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số 179/2017/HSST Ngày 28-7-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Bùi Thị Kim Oanh.
2. Ông Phạm Minh Hiếu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Dung, là Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thắng Lợi - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 182/2017/HSST ngày 22 tháng 6 năm 2017 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 186/2017/HSST-QĐ ngày 17 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:
Cao Xuân L, sinh ngày 30/3/1997 tại tỉnh Quảng Bình; thƣờng trú: Thôn 2, xã T, huyện M, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Nguyên làm nghề cơ khí; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Cao Xuân L1, sinh năm 1973 và bà Cao Thị S, sinh năm 1972; tiền sự: Không; tiền án: Bản án hình sự số 291/2015/HSST ngày 07/9/2015 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 02 năm tù về tội cƣớp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/9/2016; bị bắt tạm giam ngày 28/4/2017, có mặt.
Người bị hại: Chị Đỗ Thị Ngọc C, sinh năm 1997; thƣờng trú: Ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; tạm trú: 70 đƣờng V, khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Chị Đỗ Thị Hồng N, sinh năm 1992; thƣờng trú: Ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Vắng mặt.
2/ Chị Tăng Thị Hồng H, sinh năm 1980; thƣờng trú: 12/12 khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người làm chứng:
1/ Chị Lý Thị Thu H, sinh năm 1995; thƣờng trú: 96 phƣờng Q, thị xã G, tỉnh Đắc Nông; tạm trú: 70 đƣờng V, khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.
2/ Anh Đỗ Hữu P, sinh năm 1970; thƣờng trú: 97/2 xóm T, phƣờng T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 28/4/2017, Cao Xuân L mang theo 01 cây đoản bằng kim loại hình chữ T và 01 thanh sắt dẹp hình chữ L dài khoảng 07cm đi xe mô tô chở khách từ cầu vƣợt L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đến khu vực thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến nhà trọ số 70 đƣờng V, thuộc khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng do chị Tăng Thị Hồng H làm chủ, Cao Xuân L đi bộ vào bên trong dãy nhà trọ, thấy xe mô tô Honda Wave biển số 72E1-159.03 của chị Đỗ Thị Ngọc C dựng trong nhà xe. Cao Xuân L đi đến dùng thanh sắt dẹp hình chữ L mở ổ khóa Việt Tiệp nhà xe, vào trong dùng cây đoản hình chữ T vặn mở khóa, nổ máy nhƣng không đƣợc thì bị chị Lý Thị Thu H và anh Đỗ Hữu P phát hiện, bắt giữ.
Theo kết luận định giá số 71/BB.ĐG ngày 04/5/2017 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An kết luận: Xe mô tô Honda Wave biển số 72E1-159.03, trị giá 9.000.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá số 71/BB.ĐG ngày 04/5/2017 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An nêu trên.
Vật chứng: 01 cây đoản bằng kim loại hình chữ T, 01 thanh sắt dẹp hình chữ L dài khoảng 07cm và 01 ổ khóa Việt Tiệp màu vàng bị hỏng.
Tại cáo trạng số 187/QĐ - KSĐT ngày 21 tháng 6 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Cao Xuân L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 138, điều 18 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 138; điều 18; điểm p khoản 1 điều 46; điểm g, khoản 1 điều 48; khoản 3 điều 52 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy 01 cây đoản bằng kim loại hình chữ T, 01 thanh sắt dẹp hình chữ L dài khoảng 07cm và 01 ổ khóa Việt Tiệp màu vàng bị hỏng.
Tại phiên tòa, bị cáo xin đƣợc Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng; ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và ngƣời làm chứng cũng không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 28/4/2017, tại nhà trọ số 70 đƣờng V, thuộc khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, Cao Xuân L dùng thanh sắt dẹp hình chữ L mở ổ khóa Việt Tiệp vào trong nhà xe, dùng cây đoản bằng kim loại hình chữ T tra vào ổ khóa xe mô tô Honda Wave biển số 72E1-159.03 của chị Đỗ Thị Ngọc C dựng trong nhà xe, bẻ khóa, nổ máy nhƣng không đƣợc thì bị bắt quả tang. Theo quy định tại khoản 1 điều 138 Bộ luật hình sự thì “Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”; điều 18 Bộ luật hình sự quy định “phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội. Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt”. Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo lén lút chiếm đoạt tài sản của ngƣời bị hại có giá trị 9.000.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản, tuy nhiên bị cáo mới bẻ ổ khóa, chƣa nổ máy và chƣa đƣa xe ra khỏi nhà xe nên bị cáo chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 điều 138 và điều 18 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 187/QĐ - KSĐT ngày 21 tháng 6 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhƣng đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của ngƣời bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Việc bị cáo chƣa chiếm đoạt đƣợc tài sản thì bị phát hiện là nằm ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tù tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tiền án, ngày 07/9/2015 bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 02 năm tù về tội cƣớp tài sản, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/9/2016 nhƣng chƣa đƣợc xóa án tích, lại phạm tội mới là tình tiết “tái phạm” theo quy định tại điểm g, khoản 1 điều 48 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đƣợc xem xét khi quyết định hình phạt: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời lao động, có nhân thân xấu.
Về trách nhiệm dân sự: Xe mô tô Honda Wave biển số 72E1-159.03 do chị Đỗ Thị Hồng N đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký mô tô xe máy đã cho chị Đỗ Thị Ngọc C sử dụng nhƣng chƣa làm thủ tục sang tên, xe bị hỏng ổ khóa nhƣng ngƣời bị hại và ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu bồi thƣờng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xử lý vật chứng:
- Xét 01 cây đoản bằng kim loại hình chữ T, 01 thanh sắt dẹp hình chữ L dài khoảng 07cm, bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội, căn cứ vào điểm a khoản 1 điều 41 Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 2 điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
- Xét ổ khóa Việt Tiệp màu vàng là tài sản của chị Tăng Thị Hồng H, hiện đã bị hỏng không còn giá trị sử dụng, chị H không yêu cầu nhận lại, căn cứ vào điểm a khoản 1 điều 41 Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 2 điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 1, 2 điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Cao Xuân L phạm tội Trộm cắp tài sản (chƣa đạt).
Áp dụng khoản 1 điều 138; điểm p, khoản 1 điều 46; điểm g, khoản 1 điều 48; điều 18; khoản 3 điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Cao Xuân L 15 (mƣời lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/4/2017.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 41 Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 2 điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 cây đoản bằng kim loại hình chữ T, 01 thanh sắt dẹp hình chữ L dài khoảng 07cm và 01 ổ khóa Việt Tiệp màu vàng bị hỏng.
(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/6/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 1, 2 điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Cao Xuân L phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Ngƣời bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Dĩ An; - Công an thị xã Dĩ An; - Chi cục THA thị xã Dĩ An; - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - Bị cáo; - Lƣu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Đỗ Thị Liễng |