vanban.org

Bản án 1782/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 26/11/2019 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Trương Ngọc L

a) Về quan hệ hôn nhân: bà Trương Ngọc L được ly hôn với ông Phạm Lê Anh T Giấy chứng nhận kết hôn số 42 do Ủy ban nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 22/3/2017 không còn giá trị pháp lý.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Ngọc L-Phạm Lê Anh T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Trương Ngọc L
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 1782/2019/HNGĐ-ST

Ngày: 26/11/2019. V/v: Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Thị Điệp. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Nhung.

2. Ông Trần Ngọc Thực.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hương.

Ngày 26 tháng 11 năm 2019 tại Trụ sở Toà Gia đình và Người chưa thành niên - 26 Lê Thánh Tôn, phường Bến Nghé, Quận 01, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 167/2019/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 4995/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trương Ngọc L, sinh năm 1995; nơi cư trú: 55/8 Phan Xích LPhường U, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Phạm Lê Anh T, sinh năm 1995; nơi cư trú: 163 Treasure Way # F S A TX 78209 USA (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Có bà Hồ Thị Diễm H - Đại diện theo uỷ quyền - trong phạm vi được nhận các văn bản tố tụng của Tòa án (văn bản uỷ quyền đã được hợp pháp hoá lãnh sự ngày 05/9/2019).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và bản tự khai, bà Trương Ngọc L trình bày:

Bà và ông Phạm Lê Anh Ttự nguyện đăng ký kết hôn số 42 ngày 22/3/2017 tại Ủy ban nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong thời gian sống chung, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, bất đồng quan điểm. Từ năm 2017, ông T đã đi định cư ở Mỹ. Vợ chồng đã không còn liên lạc, quan tâm, chăm sóc. Hôn nhân chỉ tồn tại về mặt pháp lý. Bà xác định tình cảm không còn, xin được ly hôn.

Về con chung: không có

Về tài sản và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà có đơn xin không tham gia phiên họp hòa giải và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Ông Phạm Lê Anh T trong bản tự khai được hợp pháp hoá lãnh sự ngày 05/9/2019 trình bày: ông thừa nhận vợ chồng không có khả năng đoàn tụ, đồng ý ly hôn. Ông xác định con chung và tài sản chung như lời trình bày của bà L là đúng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

1. Xét về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Bà Trương Ngọc L yêu cầu được ly hôn. Khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2015 quy định: “Vợ chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn”. Ông Phạm Lê Anh T hiện đang cư trú ở nước ngoài. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

2. Xét yêu cầu của nguyên đơn: bà Trương Ngọc L và ông Phạm Lê Anh T có đăng ký kết hôn. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Bà Trương Ngọc L xác định tình cảm không còn, xin được ly hôn.

Theo văn bản uỷ quyền ngày 05/9/2019 chữ ký của ông Phạm Lê Anh T đã được hợp pháp hoá lãnh sự. Nội dung ủy quyền ông đã uỷ quyền cho bà Hồ Thị Diễm H được thay mặt ông nhận các văn bản tố tụng của Toà án. Các văn bản về việc thụ lý vụ án, về thời gian đưa vụ án ra xét xử đã được tống đạt hợp lệ.

Toà án đã có Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4995/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/10/2019 thông báo thời gian mở phiên toà là ngày 26/11/2019. Ông Phạm Lê Anh T và bà Trương Ngọc L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Xét thấy, bà L đã cung cấp chứng cứ là các văn bản ghi ý kiến của ông Tú xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân chỉ tồn tại về mặt pháp lý, ông Tú đồng ý ly hôn, xác định không có con chung, không yêu cầu giải quyết nợ chung và tài sản chung. Văn bản này đã được hợp pháp hoá lãnh sự nên là chứng cứ có giá trị hợp pháp được công nhận theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 478 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Phạm Lê Anh T đã không có văn bản nêu ý kiến khác và cũng không đến Toà để giải quyết vụ án, đưa ra giải pháp để vợ chồng đoàn tụ. Đây là cơ sở để xác định cuộc sống chung giữa bà L và ông T không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt. Căn cứ khoản 1 Điều 122, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2015, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L

Về con chung: không có.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết.

Về án phí: bà L phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.

Căn cứ những nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, khoản 1 Điều 122 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2015;

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 26; điểm 1.1, mục 1 phần II Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Trương Ngọc L

a) Về quan hệ hôn nhân: bà Trương Ngọc L được ly hôn với ông Phạm Lê Anh T

Giấy chứng nhận kết hôn số 42 do Ủy ban nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 22/3/2017 không còn giá trị pháp lý.

b) Về con chung: không có.

c) Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí Dân sự sơ thẩm: bà Trương Ngọc L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2018/0015128 ngày 28/3/2019 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trương Ngọc L đã nộp đủ án phí.

3. Quyền và nghĩa vụ của các đương sự được thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Ông Phạm Lê Anh Tú được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, bà Trương Ngọc Linh được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ