vanban.org

Bản án 178/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Châu Minh T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm, 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2026. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Châu Minh T - Sử dụng trái phép chất ma túy - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 256a Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 178/2026/HS-ST
Ngày: 08/9/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Lắm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Văn Bi.

2. Ông Nguyễn Văn Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Tuấn Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2

- Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nam - Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 155/2026/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 239/2026/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Châu Minh T, Giới tính: Nam; Sinh ngày 23 tháng 01 năm 1992; tại tỉnh Đồng Tháp; Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: số G, khu phố H, phường G, tỉnh Đồng Tháp; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1966 và bà Châu Thị H, sinh năm 1967; Vợ: Trần Thị Hải Y, sinh năm 2008; Con: Chưa có; Tiền án: không; Tiền sự: 02 lần: Ngày 22/3/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh (trước đây) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 15 tháng theo Quyết định số 269/2020/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 09/4/2022; Ngày 15/11/2023, bị Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang (trước đây) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 57/2023/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 11/7/2025.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 18/6/2026 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Châu Minh T đang bị quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú theo Quyết định số 54/QĐ-UBND ngày 16/7/2025 của Ủy ban nhân dân phường G, tỉnh Đồng Tháp thời gian từ ngày 16/7/2025 đến ngày 16/7/2027. Ngày 14/5/2026, Công an phường G mời bị cáo T đến trụ sở làm việc tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma túy trong cơ thể thông qua nước tiểu, kết quả bị cáo T dương tính với chất ma tuý loại Methamphetamine và A.

Quá trình điều tra xác định, vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 07/05/2026, bị cáo gặp người thanh niên tên T1 (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) tại khu vực khu phố E, phường G, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo nhờ T1 mua 200.000 đồng ma túy loại Methamphetamine và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Đến trưa cùng ngày, bị cáo ra chuồng gà phía sau nhà mình tọa lạc số G, khu phố H, phường G, tỉnh Đồng Tháp, lấy số ma túy trên để vào bộ dụng cụ sử dụng dùng bật lửa hơ nóng rồi sử dụng một mình cho đến hết, sau khi sử dụng xong bị cáo vứt bỏ bộ dụng cụ và bật lửa vào thùng rác trước nhà.

Bản kết luận giám định số 867/KL-KTHS ngày 20 tháng 5 năm 2026 của Phòng K Công an tỉnh Đ: Tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Châu Minh T, chứa trong 01 (một) chai nhựa trong suốt có nắp màu trắng đậy kín, được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong mã số NS2 25053603 có các chữ ký ghi họ tên: Đoàn Đức Q, Nguyễn Phức C và Nguyễn Châu Minh T.

Ngoài ra Cáo trạng Viện kiểm sát còn nêu:

Đối với người thanh niên tên T1 (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) giúp bị cáo mua ma túy có dấu hiệu tội mua bán trái phép chất ma túy, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh xử lý sau.

Bản cáo trạng số 68/CT-VKSKV2 ngày 13/8/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố Nguyễn Châu Minh T đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Đồng Tháp giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 tuyên bố bị cáo Nguyễn Châu Minh T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2026.

Về vật chứng: không có.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng với hành vi của bị cáo; bị cáo thống nhất với các kết luận giám định, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; Bản kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ.

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, là đối tượng đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định số 54/QĐ-UBND ngày 16/7/2025 của Ủy ban nhân dân phường G, tỉnh Đồng Tháp thời gian từ ngày 16/7/2025 đến ngày 16/7/2027.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận vào ngày 07/5/2026 bị cáo có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại khu vực chuồng gà sau nhà của bị cáo, nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, sau đó bị Công an mời làm việc và tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma túy trong cơ thể thông qua nước tiểu phát hiện bị cáo đã sử dụng trái phép chất ma túy.

Theo Bản kết luận giám định số 867/KL-KTHS ngày 20 tháng 5 năm 2026 của Phòng K Công an tỉnh Đ: Tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của bị cáo Nguyễn Châu Minh T.

Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025;

Điều 256a. Tội sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:

a)…

b) Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện theo quy định của Luật phòng, chống ma túy;

Về tính chất, mức độ: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng dược liệu, dược phẩm độc hại mà cụ thể trong vụ án này là chất ma túy, hành vi này gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy làm ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần, mất khả năng lao động; làm suy thoái giống nòi, suy thoái nhân cách con người, gây ra các bệnh tật, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Bị cáo đã được chính quyền địa phương tuyên truyền pháp luật về ma túy sau khi cai nghiện trở về địa phương, bị cáo nhận thức rõ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng để thỏa mãn nhu cầu cho bản thân, bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng 2 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.

Về xử lý vật chứng: không có

Về án phí: bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Đối với người thanh niên tên T1 (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) giúp bị cáo mua ma túy có dấu hiệu tội mua bán trái phép chất ma túy, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh xử lý sau là phù hợp.

Qua xem xét quan điểm của Kiểm sát viên về những chứng cứ buộc tội, những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự là có căn cứ. Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Châu Minh T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm, 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2026.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

- Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ