- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN VĂN L "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Về hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 178/2024/HSST Ngày 20 - 12 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử: Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tươi. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Tung và ông Nguyễn Văn Thể.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Lan Anh - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên toà: Ông Đinh Huy Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 12 năm 2024, tại Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 173/2024/HSST ngày 29 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 184/2024/QĐXXST - HS ngày 06 tháng 12 năm 2024 đối với:
- Bị cáo: Nguyễn Văn L (tên gọi khác: Không), sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện Ứ, thành phố Hà Nội; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Phúc L1 và bà Lại Thị T (đã chết); vợ: Nguyễn Thị H; con: 01 con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ: Ngày 21/9/2024 đến ngày 27/9/2024 chuyển sang tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thị L2, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn T, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định; có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Trần Văn N; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 30 phút ngày 21/9/2024 tổ công tác của Công an phường Y, thị xã D tuần tra tại tổ dân phố C, phường Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam, phát hiện một người đàn ông có biểu hiện nghi vấn đang ngồi trên xe mô tô BKS 30F8-6062 nên yêu cầu kiểm tra hành chính. Tại chỗ người này khai tên là Nguyễn Văn L, sinh năm 1990, trú tại thôn H, xã H, huyện Ứ, thành phố Hà Nội đã thả từ lòng bàn tay trái xuống đất ngay chân trái của L 01 gói ni lon màu trắng kích thước khoảng (10x04)cm, bên trong chứa 04 gói giấy bạc mỗi gói có kích thước khoảng (2x0,8)cm, mở ra kiểm tra bên trong mỗi gói giấy bạc có chứa chất bột màu trắng, dạng cục, bột, L khai là ma túy H1 vừa mua về để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.
* Vật chứng thu giữ gồm: Thu giữ tại vị trí phía bên chân trái Nguyễn Văn L: 01 gói nilon màu trắng KT (10x04)cm, bên trong chứa 04 gói giấy bạc, mỗi gói có kích thước khoảng (2x0,8)cm bên trong mỗi gói giấy bạc đều có chứa chất bột màu trắng, dạng cục, bột được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01; 01 xe mô tô, loại xe Wave sơn màu đỏ - đen, đeo BKS: 30F8-6062, số khung: RLHHC12058Y142015 và số máy: HC12E0270480, xe đã qua sử dụng.
* Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn L tại thôn H, xã H, huyện Ứ, thành phố Hà Nội: Không thu giữ tài liệu, đồ vật gì liên quan. Tại bản Kết luận giám định số 752/KL-KTHS, ngày 27/9/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh H kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,516g, loại: Heroine”.
Về nguồn gốc số ma túy, Nguyễn Văn L khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy loại Heroine, khoảng 10 giờ 30 phút ngày 21/9/2024 L đã góp số tiền 80.000đ cùng với K, nhà ở huyện K còn tên tuổi cụ thể thì Lưu không biết, sau đó K điều khiển xe mô tô đeo BKS 30F8-6062 của L chở L đi từ vòng xuyến V, phường Đ, thị xã D đến khu vực Trạm bơm thuộc xã M, huyện P, thành phố Hà Nội để tìm mua ma túy loại Heroine, đến nơi K bảo Lưu xuống xe đứng chờ còn K điều khiển xe mô tô đi mua ma tuý, sau đó khoảng 15 phút thì K quay lại và đưa L 01 gói ni lông bên trong chứa 04 gói giấy bạc chứa ma tuý Heroine. L cầm ở lòng bàn tay trái và lên xe K chở đi tìm nơi để sử dụng ma tuý, khi đi đến đầu Cầu P, thuộc TDP C, phường Y, thị xã D, K dừng lại, xuống xe để đi mua bơm kim tiêm và nước cất để sử dụng ma túy còn L ngồi trên xe chờ K thì lúc này lực lượng Công an phường Y, thị xã D đến kiểm tra thu giữ số ma tuý trên của L.
Cáo trạng số 178/CT - VKS - DT ngày 28 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn L mức án từ 24 đến 30 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về xử lý vật chứng và tuyên án phí đối với bị cáo.
Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và không tranh luận gì thêm. Chị Nguyễn Thị L2 đề nghị xin lại chiếc xe mô tô gắn BKS 30F8-6062 và không có ý kiến tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sơ nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, những người tiến hành tố tụng nêu trên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về tội danh, tính chất, mức độ tội phạm: Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận:
Hồi 11 giờ 30 phút ngày 21/9/2024 tại tại tổ dân phố C, phường Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam, Nguyễn Văn L đang có hành vi cất giữ trái phép 0,516 gam Heroine, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu trật tự trị an tại địa phương, hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo Nguyễn Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ pháp lý, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn Lưu K1 phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bố mẹ bị cáo là người có công với cách mạng, bản thân bị cáo đã tham gia quân ngũ hoàn thành nghĩa vụ trở về địa phương nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
Hình phạt chính: Từ nhận định trên, xét thấy hành vi của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng nên cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp.
Về các tình tiết khác, nguồn gốc ma tuý: Đối với người bạn tên K như L khai đã cùng nhau mua ma túy để sử dụng đã bỏ chạy thoát, hiện không xác định được là ai, ở đâu, ngoài lời khai của L ra không còn tài liệu nào khác nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã D không có căn cứ để xác minh làm rõ là đúng.
Về vật chứng vụ án:
- Đối với 01 phong bì niêm phong có số 752/KTHS là mẫu vật hoàn trả sau giám định ma tuý và là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu huỷ.
- Đối với 01 xe mô tô, nhãn hiệu Hon Da, gắn BKS 30F8-6062 là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị L2 (chị gái bị cáo Nguyễn Văn L) chị L2 cho Lưu mượn để đi lại và chị L2 không biết bị cáo L sử dụng xe mô tô của chị vào việc phạm tội nên cần trả lại cho chị Nguyễn Thị L2.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Về hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2024.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu cho tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có số 752/KTHS.
- Trả lại chị Nguyễn Thị L2: 01 xe mô tô nhãn hiệu Hon Da, gắn BKS 30 F8 - 6062.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thị xã D và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên ngày 02/12/2024)
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng.
Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên; - VKSND thị xã Duy Tiên; - Chi cục THADS thị xã Duy Tiên; - Cơ quan THAHS Công an tx Duy Tiên; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam; - Bị cáo; đương sự - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tươi |