- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 178/2024/HS-ST Ngày 26-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Mười.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Minh Toàn
Bà Phạm Thị Kim Thu
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đức Trung - Thẩm tra viên Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 183/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 174/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Hoàng Văn H, sinh ngày 05 tháng 10 năm 1989 tại Hưng Yên; nơi ĐKHKTT: thôn D, xã C, huyện K, tỉnh Hưng Yên; nơi ở hiện nay: thôn T, xã C, huyện K, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn Q (đã chết) và bà Nguyễn Thị Thúy H1; có vợ là Nguyễn Thị Phương A, sinh năm 1993 (đã ly hôn), có 01 con; tiền án: Bản án số 23/2007/HSST ngày 30/11/2007 của Tòa án nhân dân huyện Mang Yang tỉnh Gia Lai xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 14/5/2024, đến ngày 20/5/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (do bị Lao phổi, nhiễm trùng vết thương cẳng chân phải); có mặt.
Người chứng kiến: Anh Hoàng Hải Q1, sinh năm 1979; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 14/5/2024, Hoàng Văn H đi xe khách từ Hưng Yên xuống Hải Phòng đến chơi ở nhà chị Nguyễn Thị Phương A, sinh năm 1993 (là vợ đã ly hôn); nơi cư trú: xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng. Đến nơi, H hỏi mượn xe mô tô biển kiểm soát 15G1-545.83 của chị Phương A để đi có việc. Do nghiện Heroine nên khoảng hơn 10 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô trên đến khu vực đường T, quận L, thành phố Hải Phòng để mua ma túy về sử dụng. Tại đây H gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 200.000 đồng ma túy Heroine, được đựng trong 01 gói giấy màu trắng. Mua được ma túy, H giấu vào trong mũ lưỡi trai đang đội trên đầu rồi điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng. Khi đến khu vực trước số E đường H, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng H xuống xe, ngồi uống nước thì bị lực lượng Công an làm nhiệm vụ kiểm tra phát hiện, bắt quả tang, đưa về trụ sở Công an phường Sở Dầu lập biên bản.
Vật chứng thu giữ: 01 gói giấy màu trắng kích thước 2,5x1,5 cm bên trong chứa chất bột màu trắng (mẫu QT); 01 xe mô tô Honda SH Mode màu đỏ đen biển kiểm soát 15G1-545.83 (đã qua sử dụng); 01 bơm kim tiêm (chưa qua sử dụng) và 01 mũ lưỡi trai màu đen có ký hiệu ADIDAS.
Kết quả xét nghiệm nhanh nước tiểu của Hoàng Văn H kết quả dương tính với H2.
Tại bản Kết luận giám định số 593/KL-KTHS ngày 19/5/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: “chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,17 gam, loại: Heroine (Heroin)”.
Tại Cơ quan điều tra Hoàng Văn H khai nhận phù hợp như nội dung nêu trên, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định ma túy và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án: Chuyển Chi cục thi hành án dân sự quận H: 01 bì giấy dán kín trong chứa số ma túy còn lại sau giám định có dấu niêm phong số 593MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H; 01 bơm kim tiêm (chưa qua sử dụng) và 01 mũ lưỡi trai màu đen có ký hiệu ADIDAS.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode, màu đỏ đen, biển kiểm soát 15G1-545.83, qua giám định chiếc xe có số khung, số máy nguyên thủy, không bị sửa chữa, tẩy xóa, xe không có trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng. Xác minh chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị Phương A, chị Phương A cho bị H mượn nhưng không biết mục đích sử dụng xe mô tô trên để đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra trả lại cho chị Phương A.
Tại Bản cáo trạng số 155/CT-VKSHB ngày 26/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Hoàng Văn Huy về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, bản Kết luận giám định ma túy và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn H với mức án từ 21 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, đang bị ốm do lao phổi.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 bì giấy dán kín trong chứa số ma túy còn lại sau giám định có dấu niêm phong số 593MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H; 01 bơm kim tiêm (chưa qua sử dụng) và 01 mũ lưỡi trai màu đen có ký hiệu ADIDAS. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode, màu đỏ đen, biển kiểm soát 15G1-545.83, qua giám định chiếc xe có số khung, số máy nguyên thủy, không bị sửa chữa, tẩy xóa, xe không có trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng. Xác minh chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị Phương A, chị Phương A cho bị H mượn nhưng không biết mục đích sử dụng xe mô tô trên để đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra trả lại cho chị Phương A, nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về tài liệu, chứng cứ Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên thu thập; bị cáo cung cấp đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về sự vắng mặt của người chứng kiến:
Người chứng kiến anh Hoàng Hải Q1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Bị cáo và đại diện Viện kiểm sát không đề nghị hoãn phiên tòa về sự vắng mặt của người chứng kiến. Xét thấy người chứng kiến đã có lời khai tại giai đoạn điều tra và việc vắng mặt của họ tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật tố tụng hình sự; Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người chứng kiến.
- Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung trên, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai người chứng kiến; phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu giữ, Kết luận giám định chất ma túy và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng hơn 10 giờ ngày 14/5/2024, tại khu vực trước số E đường H, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng, Hoàng Văn H có hành vi cất giấu trái phép 0,17 gam ma túy loại Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, bị phát hiện bắt quả tang. Tại thời điểm thực hiện hành vi (ngày 14/5/2024), bị cáo là người trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự; bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Như vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.
- Đánh giá về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an xã hội, làm phát sinh, gia tăng nhiều loại tội phạm hình sự khác.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Do Bản án số 23/2007/HSST ngày 30/11/2007 của Tòa án nhân dân huyện Mang Yang tỉnh Gia Lai xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (H cùng đồng phạm trộm cắp tài sản trị giá 13.789.000 đồng). Ngày 05/8/2009 thi hành xong hình phạt tù. Ngày 07/10/2009 thi hành xong án phí HSST và án phí DSST. H chưa thi hành khoản bồi thường cho các bị hại bà Bùi Thị L 600.000 đồng; ông Trần Thanh L1 3.523.500 đồng; ông Nguyễn Ái H3 1.845.000 đồng (chưa xóa án tích), nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm”, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn; quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên và kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa; sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy, tại Bản án số 23/2007/HSST ngày 30/11/2007 của Tòa án nhân dân huyện Mang Yang tỉnh Gia Lai xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chưa xóa án tích), cần đánh giá bị cáo là người có nhân thân xấu, coi thường pháp luật, không từ bỏ con đường phạm tội, nên áp dụng hình phạt tù có thời hạn, bắt bị cáo phải chấp hành tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định mới có đủ điều kiện giáo dục bị cáo và phát huy tác dụng răn đe, đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung:
Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ và xét hỏi tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có tài sản, không nghề nghiệp ổn định, là đối tượng nghiện ma túy, hiện đang bị lao phổi, nhiễm trùng vết thương cẳng chân phải, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bì giấy dán kín trong chứa số ma túy còn lại sau giám định có dấu niêm phong số 593MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H; 01 bơm kim tiêm (chưa qua sử dụng) và 01 mũ lưỡi trai màu đen có ký hiệu ADIDAS.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode, màu đỏ đen, biển kiểm soát 15G1-545.83, qua giám định chiếc xe có số khung, số máy nguyên thủy, không bị sửa chữa, tẩy xóa, xe không có trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng. Xác minh chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị Phương A, chị Phương A cho bị H mượn nhưng không biết mục đích sử dụng xe mô tô trên để đi mua ma túy. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Phương A, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về biện pháp ngăn chặn:
Thời hạn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Hoàng Văn H không quá thời hạn kể từ khi tuyên án (ngày 26 tháng 12 năm 2024) cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 124 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cấm xuất cảnh đối với bị cáo Hoàng Văn H kể từ ngày tuyên án (ngày 26 tháng 12 năm 2024) cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.
- Về án phí:
Bị cáo Hoàng Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo Hoàng Văn H được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án này:
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Hoàng Văn H tại khu vực đường T, quận L, thành phố Hải Phòng, quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Hoàng Văn H 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án (trừ cho bị cáo thời hạn tạm giữ từ ngày 14 tháng 5 năm 2024 đến ngày 20 tháng 5 năm 2024).
Về biện pháp ngăn chặn:
Thời hạn C đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Hoàng Văn H không quá thời hạn kể từ khi tuyên án (ngày 26 tháng 12 năm 2024) cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 124 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cấm xuất cảnh đối với bị cáo Hoàng Văn H kể từ ngày tuyên án (ngày 26 tháng 12 năm 2024) cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bì giấy dán kín trong chứa số ma túy còn lại sau giám định có dấu niêm phong số 593MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H; 01 bơm kim tiêm (chưa qua sử dụng) và 01 mũ lưỡi trai màu đen có ký hiệu ADIDAS. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Hoàng Văn H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Hoàng Văn H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND quận Hồng Bàng; - TAND thành phố Hải Phòng; - Cơ quan điều tra Công an quận Hồng Bàng; - Chi cục THADS quận Hồng Bàng; - Cơ quan Thi hành án hình sự quận Hồng Bàng; - PV 06 Công an thành phố Hải Phòng; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Mười |