- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị C - phạm tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai (điều 228 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 178/2024/HS-PT Ngày 25-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Văn Hà
Các thẩm phán: Ông V C ng h ng; Ông Nguy n Thanh Tu n
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Hằng là Th ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà V Thị Kiều Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm c ng khai vụ án hình sự thụ lý số 170/2024/TLPT- HS, ngày 28 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử s thẩm số 215/2024/QĐXX T-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo: Nguy n Thị C, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự s thẩm số: 57/2024/HS-ST ngày 16/9/2024 của tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Định.
Bị cáo có kháng cáo:
NGUYỄN THỊ C – Sinh năm: 1974, tại huyện P, tỉnh Bình Định; n i ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Th n P, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học v n: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Kh ng; quốc tịch: Việt Nam; con ng Nguy n E và bà Nguy n Thị T (đều đã chết); Chồng: Nguy n Văn T; con: Có 03 ng ời, lớn nh t sinh năm 1994, nhỏ nh t, sinh năm 2006; tiền án: Kh ng; Tiền sự: Ngày 27/04/2023, bị C ng an ph ờng Q, quận H, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính trên lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội về hành vi giăng băng r n, la hét, gây m t trật tự c ng cộng tr ớc Trụ sở Tiếp c ng dân của Trung ng Đảng và Nhà n ớc, hình thức xử phạt: Cảnh cáo theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 260/QĐ-XPHC; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị C: Ông Hồ Văn H, Luật s hoạt động tại văn phòng luật s H, thuộc Đoàn luật s tỉnh Bình Định. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và di n biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:
Thửa đ t số 169 tờ bản đồ số 10 thuộc th n T, xã M, huyện P có nguồn gốc tr ớc năm 1998 là đ t hoang và thuộc một phần thửa đ t số 33 tờ bản đồ số 13, diện tích cả thửa 48.988,6m2, loại đ t hoang (nay là đ t bằng ch a sử dụng) do UBND xã M quản lý. Thực hiện dự án VLA , năm 2013 bà V Thị T tự ý kê khai, đo đạc, lập bản đồ hiện trạng, đăng ký c p quyền sử dụng đ t đối với thửa đ t số 169 tờ bản đồ số 10 thuộc th n T, xã M, huyện P, có diện tích 728,5m2 (ghi 200m2 đ t ở n ng th n và 528,5m2 đ t bằng hàng năm khác) nh ng kh ng đủ điều kiện c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t. Đến nay, c quan quản lý Nhà n ớc về đ t đai ch a giao thửa đ t này cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nào.
Thửa đ t số 641 tờ bản đồ số 6 thuộc th n T, xã M, huyện P có nguồn gốc tr ớc năm 1998 là đ t hoang do UBND xã M quản lý và thuộc một phần thửa đ t số 1, diện tích 73.121,9m2, loại đ t hoang (nay là đ t bằng ch a sử dụng) do UBND xã M quản lý. Thực hiện dự án VLA , năm 2013 bà Trần Thị P tự ý kê khai, đo đạc, lập bản đồ hiện trạng, đăng ký c p quyền sử dụng đ t đối với thửa đ t số 641 tờ bản đồ số 6 nh ng kh ng đ ợc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t. Đến nay, c quan quản lý Nhà n ớc về đ t đai ch a giao thửa đ t này cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân.
Nh vậy, hai thửa đ t nêu trên ch a giao quyền cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nào, thuộc quản lý của UBND xã M. Thế nh ng, một số cá nhân có hành vi l n chiếm, sử dụng trái phép hai thửa đ t này và sau đó tự ý sang nh ợng trái phép cho bị cáo. Bị cáo biết các thửa đ t nhận sang nh ợng là do l n chiếm nh ng vẫn mua và tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong việc sử dụng đ t đai, cụ thể nh ng sau:
Đối với thửa đ t thửa đ t số 169 tờ bản đồ số 10 thuộc th n T, xã M, huyện P: Năm 2011, D ng Thị T là con gái của V Thị T xây dựng c ng trình trái phép tại thửa đ t số 169 tờ bản đồ số 10 thuộc th n T, xã M, huyện P mục đích để chiếm đ t chứ kh ng sống liên tục ở đây do n i này kh ng có điều kiện sinh sống c bản. Đến năm 2017, dù biết là đ t l n chiếm, ch a đ ợc xác lập quyền sử dụng đ t, nh ng bị cáo vẫn mua một phần thửa đ t số 169 tờ bản đồ số 10 thuộc th n T, xã M, huyện P từ D ng Thị T với giá tiền 72.000.000 đồng để c n trừ số tiền D ng Thị T nợ 50.000.000 đồng. Hai bên tự viết tay gi y mua bán, giao tiền mà kh ng có c ng chứng, kh ng có xác nhận của c quan có thẩm quyền, kh ng đóng các loại thuế, phí cho Nhà n ớc. Bản thân hai bên cũng kh ng biết chính xác kích th ớc thửa đ t vì kh ng đo đạc mà chỉ thoả thuận kích th ớc.
Ngày 17/10/2019, UBND tỉnh Bình Định ban hành Quyết định số 3760/QĐ-UBND về việc giao đ t cho Trung tâm hát triển Quỹ đ t huyện P để xây dựng khu dân c trong đó có thửa đ t số 169 tờ bản đồ số 10 thuộc th n T, xã M, huyện P. Khoảng tháng 02/2020, khi chuẩn bị san ủi mặt bằng để xây dựng khu dân c thì có một số ng ời dân ngăn cản rồi tập kết vật liệu, lén lút xây dựng c ng trình trái phép trong đêm.
Ngày 25/02/2020, UBND xã M kiểm tra hiện tr ờng, lập Biên bản vi phạm hành chính số 02/BB-V HC đối với bị cáo về hành vi “chiếm đ t phi n ng nghiệp, xây dựng nhà: móng bằng đá chẻ, t ờng xây bằng gạch, trên diện tích 14m2 tại thửa đ t số 169, tờ bản đồ số 10 thuộc th n T, xã M, huyện P”. Ngày 28/02/2020, UBND huyện P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1714/QĐ-XPVPHC đối với bị cáo về hành vi “chiếm đ t phi n ng nghiệp, xây dựng móng và t ờng nhà, diện tích 14m2 tại thửa đ t số 169, tờ bản đồ số 10 thuộc th n T, xã M, huyện P” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 14 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP; hình phạt chính phạt tiền: số tiền 15.000.000 đồng; biện pháp khắc phục hậu quả: buộc phải tháo dỡ toàn bộ c ng trình, kh i phục lại tình trạng ban đầu của đ t tr ớc khi vi phạm; trả lại toàn bộ đ t l n chiếm.
Mặc dù đã bị xử phạt nh ng bị cáo vẫn thuê Ng Thanh Q tiếp tục xây dựng t ờng rào xung quanh c ng trình nhà ở đã bị xử phạt. Ngày 02/3/2020, UBND xã M kiểm tra hiện tr ờng xác định bị cáo có hành vi xây dựng t ờng rào với diện tích bao 217,5m2 tại thửa đ t số 169 tờ bản đồ số 10 thuộc th n T, xã M, huyện P. Ngày 06/3/2020, UBND xã M lập Biên bản vi phạm hành chính số 10/BB-V HC đối với bị cáo về hành vi “chiếm đ t phi n ng nghiệp, xây dựng t ờng rào bằng gạch, trụ bê t ng, diện tích đ t bao chiếm 217,5m2, tại thửa đ t số 169 tờ bản đồ số 10, thuộc thôn T, xã M, huyện P”. Ngày 12/3/2020, UBND huyện P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1936/QĐ-X V HC đối với bị cáo về hành vi “chiếm đ t phi n ng nghiệp, xây dựng t ờng rào bằng gạch, trụ bê t ng, diện tích đ t bao chiếm 217,5m2 tại thửa đ t số 169, tờ bản đồ số 10 thuộc th n T, xã M, huyện P” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 14 Nghị định số 91/2019/NĐ-C với tình tiết tăng nặng: tái phạm; hình phạt chính phạt tiền: số tiền 20.000.000 đồng; biện pháp khắc phục hậu quả: buộc phải tháo dỡ toàn bộ c ng trình, kh i phục lại tình trạng ban đầu, trả lại toàn bộ đ t l n chiếm.
Ngày 04/5/2020, Chủ tịch UBND huyện P ra Quyết định c ỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả số 3088/QĐ-CCX đối với biện pháp khắc phục hậu quả trong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1714/QĐ-XPVPHC và Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1936/QĐ-XPVPHC.
Bị cáo đã nhận Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1714/QĐ-X V HC và Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1936/QĐ-X V HC nh ng kh ng ch p hành các quyết định xử phạt mà đã khiếu nại hai quyết định này.
Ngày 11/5/2020, Chủ tịch UBND huyện P ra Quyết định số 3286/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại lần đầu, kh ng c ng nhận nội dung đ n khiếu nại của bị cáo. Bị cáo tiếp tục khiếu nại Quyết định số 3286/QĐ-UBND ngày 11/5/2020 của Chủ tịch UBND huyện P đến Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định. Ngày 07/12/2021, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định ra Quyết định số 4881/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại lần hai. Kết quả giải quyết, c ng nhận và giữ nguyên nội dung Quyết định số 3286/QĐ-UBND ngày 11/5/2020 của Chủ tịch UBND huyện P.
Tiếp đó, khi thửa đ t số 169 tờ bản đồ số 10 thuộc th n T, xã M, huyện P bị UBND huyện P xử phạt vi phạm hành chính hai lần và có quyết định c ỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả thì bị cáo biết kh ng chiếm đ ợc đ t này. Do đó, bị cáo định chiếm thửa đ t số 641 tờ bản đồ số 6 thuộc th n T, xã M, huyện P thì xảy ra tranh ch p với Trần Thị H, vì Trần Thị H cho rằng đ t này mình xí, chiếm tr ớc. Sau đó, bị cáo thoả thuận mua lại thửa đ t này với tổng số tiền 80.000.000 đồng, có viết tay gi y mua bán. Do thửa đ t này là chiếm trái phép nên hai bên đã viết tay gi y mua bán, giao tiền mà kh ng có c ng chứng, kh ng có xác nhận của c quan có thẩm quyền, kh ng đóng các loại thuế, phí cho Nhà n ớc. Bản thân Trần Thị H, bị cáo cũng kh ng biết kích th ớc thửa đ t mà chỉ thỏa thuận kích th ớc rồi viết tay gi y mua bán và cũng kh ng xác định vị trí ranh giới đ t, bàn giao đ t.
Khoảng tháng 11/2020, bị cáo tập kết vật liệu, san ủi mặt bằng tại thửa đ t số 641 tờ bản đồ số 6 thuộc th n T, xã M, huyện P rồi thuê Ng Thanh Q xây dựng t ờng rào, nhà trên thửa đ t số 641 tờ bản đồ số 6 thuộc th n T, xã M, huyện P. Ngày 05/11/2020, UBND xã M kiểm tra tại thửa đ t này, phát hiện đã xây hàng rào thành khuôn viên với hàng rào phía tây dài 40m, cao 1,3m; hàng rào phía đ ng dài 40m, diện tích đ t bao chiếm thành khu n viên là 400m2 nên đã lập Biên bản kiểm tra hiện tr ờng về lĩnh vực đ t đai, xác định c ng trình vi phạm là của bị cáo. Ngày 10/11/2020, UBND xã M tiếp tục kiểm tra tại thửa đ t này phát hiện đã xây nhà với diện tích 56,2m2 (kích th ớc 13,7x4,1)m nên đã lập Biên bản kiểm tra hiện tr ờng về lĩnh vực đ t đai, xác định c ng trình vi phạm là của bị cáo.
Ngày 13/01/2021, UBND xã M kiểm tra, phát hiện bị cáo đã xây hàng rào bằng gạch tạo thành khu n viên với diện tích 471,84m2 hàng rào phía tây dài 48,3m, hàng rào phía đ ng dài 47,75m, hàng rào phía nam dài 9,9m, hàng rào phía bắc dài 9,75m tại thửa đ t số 641 tờ bản đồ số 6 thuộc th n T, xã M, huyện P nên đã lập Biên bản kiểm tra hiện tr ờng để ghi nhận hiện trạng c ng trình. Ngày 15/01/2021, UBND xã M lập Biên bản vi phạm hành chính số 01/BB-V HC đối với Nguy n Thị C về hành vi “xây dựng hàng rào bằng gạch tạo thành khu n viên, bao chiếm đ t ch a sử dụng diện tích 471,84m2 tại thửa đ t số 641; tờ bản đồ số 6 thuộc th n T, xã M, kết c u: móng xây bằng đá chẽ, t ờng xây bằng gạch. Xây dựng nhà nằm trong khu n viên này diện tích 56,17m2, kết c u: móng xây bằng đá chẽ, t ờng xây bằng gạch, mái lợp tole”.
Ngày 21/01/2021, UBND xã M ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 14/QĐ-X V HC với hành vi “chiếm đất chưa sử dụng tại khu vực nông thôn cụ thể: xây dựng hàng rào bằng gạch diện tích 471,84m2; xây dựng nhà diện tích 56,17m2, kết cấu móng đá chẽ, tường xây bằng gạch tại thửa đất số 641, tờ bản đồ số 6 thuộc thôn T, xã M, huyện P” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 14 Nghị định số 91/2019/NĐ-C với tình tiết tăng nặng: vi phạm hành chính nhiều lần; hình phạt chính phạt tiền: số tiền 3.000.000 đồng; biện pháp khắc phục hậu quả: buộc phải tháo dỡ toàn bộ c ng trình, kh i phục lại tình trạng ban đầu, trả lại toàn bộ đ t bị l n chiếm.
Ngày 09/3/2021, UBND huyện P tổ chức thi hành xong Quyết định c ỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả số 3088/QĐ-CCX đối với biện pháp khắc phục hậu quả trong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1714/QĐ-X V HC và Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1936/QĐ-XPVPHC.
Khoảng giữa năm 2023, bị cáo thuê Huỳnh Văn C, V Văn H làm nhà kho ở trên thửa đ t số 641 tờ bản đồ số 6 thuộc th n T, xã M, huyện P. Ngày 28/12/2023, UBND xã M kiểm tra, lập Biên bản vi phạm hành chính số 04/BB-V HC đối với bị cáo về hành vi “xây dựng c ng trình trái phép tại thửa đ t số 641, tờ bản đồ số 6, diện tích 61,16m2; kích th ớc dài 15,1m, rộng 4,05m. (Trong đó: diện tích nhà chính 48,6m2; kết c u: khung sắt, 04 mặt vách đóng t n, mái lợp t n. Mái hiên: diện tích 12,56m2; kết c u: trụ ống n ớc, bên trong đổ bê t ng, mái lợp t n)”.
Trong quá trình thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 14/QĐ-XPVPHC, UBND xã M nhận th y hành vi của bị cáo có d u hiệu tội phạm nên đã chuyển hồ s vụ việc cho C quan Cảnh sát điều tra C ng an huyện P điều tra, xử lý theo thẩm quyền.
Bản án hình sự s thẩm số: 57/2024/HS-ST ngày 16/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Định đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 228; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ các Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguy n Thị C phạm tội “Vi phạm các quy định về sử dụng đất đai”.
2. Về hình phạt: Xử phạt Bị cáo Nguy n Thị C 06 (Sáu) tháng tù, thời gian ch p hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, bản án hình sự s thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo của những ng ời tham gia tố tụng.
Ngày 26/9/2024 bị cáo Nguy n Thị C có đ n kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin đ ợc h ởng án treo hoặc cải tạo kh ng giam giữ.
Tại phiên tòa, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo đề nghị hội đồng xét xử xem xét lại hiện nay bị cáo ngh o khổ và cho rằng hành vị l n đ t là sai nh ng bị cáo khó khăn kh ng có tiền để làm thủ tục xin c p đ t. Đề nghị hội đồng xét xử xem xét bị cáo bị oan.
- Đại diện viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Không ch p nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên mức hình phạt của bản án hình sự s thẩm .
- Luật s Hồ Văn H trình bày Luận cứ bào chữa cho bị cáo Nguy n Thị C: Thửa đ t số 169, tờ bản đồ số 10 và thửa đ t số 641, tờ bản đồ số 6 do bà V Thị T, bà Trần Thị P kê khai theo dự án Vlap, mà đại diện UBND xã M cho rằng dự án Vlap kh ng có giá trị pháp lý là kh ng đúng.Quá trình xử phạt vi phạm hành chính của bị cáo, thì UBND xã M và UBND huyện P còn cứng nhắc kh ng xem xét hết điều kiện hoàn cảnh, nguyên nhân dẫn đến bị cáo vi phạm mà xử phạt bị cáo là ch a th u tình đạt lý, tại địa ph ng kh ng th ng báo cho dân biết đ t nhà n ớc đang quản lý sử dụng kh ng cho phép ng ời dân xây d ng trên đ t. Hiện tại Các quyết định xử phạt 1714/QĐ-X V HC phạt tiền: số tiền 15.000.000 đồng và số 1936/QĐ-XPVPHC phạt tiền 20.000.000 đồng bị cáo ch a ch p hành vì bị cáo còn khó khăn kh ng có tiền để nộp phạt. H n nữa việc l n chiếm đ t của bị cáo là sai nh ng chỉ xử lý hành chính là phù hợp còn xử lý hình sự là quá nặng, quá nghiêm khắc đối với bị cáo. Đề nghị hội đồng xét xừ hoãn phiên toà có ý kiến kiến nghị các c quan quản lý đ t có l n chiếm hay kh ng.
Bị cáo không tranh luận gì với đại diện viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ s vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận th y nh sau:
. Về tố tụng: Bị cáo Nguy n Thị C kháng cáo trong thời hạn luật định, nên đ ợc Hội đồng xét xử xem xét giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguy n Thị C cho rằng hành vi l n đ t là sai nh ng bị cáo kh ng có tiền để làm thủ tục xin c p đ t vì bị cáo ngh o con còn nhỏ nên kh ng biết việc l n chiếm đ t là sai đề nghị hội đồng xét xử xem xét lại. Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ s vụ án để xác định:
Ngày 28/02/2020, UBND huyện P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1714/QĐ-X V HC đối với bị cáo về hành vi “chiếm đất phi nông nghiệp, xây dựng móng và tường nhà, diện tích 14m2 tại thửa đất số 169, tờ bản đồ số 10 thuộc thôn T, xã M, huyện P”; hình phạt chính phạt tiền: số tiền 15.000.000 đồng; biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc phải tháo dỡ toàn bộ c ng trình, kh i phục lại tình trạng ban đầu của đ t tr ớc khi vi phạm; trả lại toàn bộ đ t l n chiếm.
Ngày 12/3/2020, UBND huyện P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1936/QĐ-X V HC đối với bị cáo về hành vi “chiếm đ t phi n ng nghiệp, xây dựng t ờng rào bằng gạch, trụ bê t ng, diện tích đ t bao chiếm 217,5m2 tại thửa đ t số 169, tờ bản đồ số 10 thuộc th n T, xã M, huyện P; hình phạt chính phạt tiền: số tiền 20.000.000 đồng; biện pháp khắc phục hậu quả: buộc phải tháo dỡ toàn bộ c ng trình, kh i phục lại tình trạng ban đầu, trả lại toàn bộ đ t l n chiếm.
Ngày 13/01/2021, UBND xã M kiểm tra, phát hiện bị cáo đã xây hàng rào bằng gạch tạo thành khu n viên với diện tích 471,84m2 hàng rào phía tây dài 48,3m, hàng rào phía đ ng dài 47,75m, hàng rào phía nam dài 9,9m, hàng rào phía bắc dài 9,75m tại thửa đ t số 641 tờ bản đồ số 6 thuộc th n T, xã M, huyện P nên đã lập Biên bản kiểm tra hiện tr ờng để ghi nhận hiện trạng c ng trình. Ngày 21/01/2021, UBND xã M ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 14/QĐ-X V HC phạt tiền: Số tiền 3.000.000 đồng; biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc phải tháo dỡ toàn bộ c ng trình, kh i phục lại tình trạng ban đầu, trả lại toàn bộ đ t bị l n chiếm.
Trong quá trình thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 14/QĐ-XPVPHC, UBND xã M nhận th y hành vi của bị cáo có d u hiệu tội phạm. Nên ngày 24/01/2024 c quan điều tra có c ng văn số 37 đề nghị hủy quyết định xử phạt vi phạm hành chính nêu trên. Ngày 01/02/2024 UBND Xã M đã ra quyết định số 38 hủy quyết định số số: 14/QĐ- XPVPHC và chuyển hồ s vụ việc cho C quan Cảnh sát điều tra C ng an huyện P điều tra, xử lý theo thẩm quyền.
Hành vi l n chiếm đ t đai trái phép là vi phạm pháp luật và bị nghiêm c m d ới mọi hình thức, nh ng bị cáo đã b t ch p t t cả và cố ý thực hiện hành vi phạm tội đã bị xử phạt hành chính nhiều lần l n chiếm đ t đai trái phép nh ng bị cáo cố tình trốn tránh kh ng nhận quyết định xử lý vi phạm hành chính và không ch p hành các quyết định xử phạt hành chính: số 1714/QĐ-XPVPHC phạt 15.000.000 đ ngày 28/02/2020 và ngày 12/3/2020 theo quyết định số 1936/QĐ-XPVPHC phạt 20.000.000 đồng đến nay bị cáo kh ng nộp tiền kh ng ch p hành mà còn tiếp tục phạm tội.
Ngày 13/01/2021, UBND xã M kiểm tra, phát hiện bị cáo đã xây hàng rào bằng gạch tạo thành khu n viên với diện tích 471,84m2 hàng rào phía tây dài 48,3m, hàng rào phía đ ng dài 47,75m, hàng rào phía nam dài 9,9m, hàng rào phía bắc dài 9,75m tại thửa đ t số 641 tờ bản đồ số 6 thuộc th n T, xã M, huyện P nên đã lập Biên bản kiểm tra hiện tr ờng vi phạm. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố c u thành tội “Vi phạm các quy định về sử dụng đất đai”đ ợc quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật hình sự; có khung hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm mà c p s thẩm áp dụng xét xử cho bị cáo là đúng ng ời, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét kháng cáo của Bị cáo xin giảm nhẹ hình phat và xin đ ợc h ởng án treo hoặc cải tạo kh ng giam giữ và tại phiên toà bị cáo thay đồi nội dung kháng cáo. Bị cho rằng hành vị l n đ t là sai nh ng bị cáo kh ng có tiền để làm thủ tục xin c p đ t vì bị cáo ngh o con còn nhỏ nên kh ng biết việc l n chiếm đ t là sai đề nghị hội đồng xét xử xem xét lại: Hội đồng xét xử th y rằng Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ khả năng để nhận thức đ ợc hành vi l n chiếm đ t đai trái phép do nhà n ớc quản lý là xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà n ớc về sử dụng đ t đai , nên bị c p s thẩm xử phạt bị cáo 06 tháng tù là có c sở. Tuy nhiên, xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Tại phiên toà Bị cáo kh ng thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải mà cho rằng việc l n chiếm đ t trái phép là sai, nh ng vì bị cáo kh ng có tiền để làm thủ tục xin c p đ t. Toà án c p s thẩm xử phạt tù cho bị cáo kh ng đúng, cho nên Hội đồng xét xử kh ng áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo cho bị cáo mà chỉ áp dụng tình tiết giảm nhẹ là bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc tr ờng hợp ít nghiêm trọng đ ợc quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, c p s thẩm áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, xử phat bị cáo 06 tháng tù là khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp với tính ch t, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
Ngoài ra, vào ngày 27/04/2023 bị cáo bị C ng an ph ờng Q, quận H, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính trên lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội về hành vi giăng băng r n, la hét, gây m t trật tự c ng cộng tr ớc Trụ sở Tiếp c ng dân của Trung ng Đảng và Nhà n ớc, hình thức xử phạt: Cảnh cáo theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 260/QĐ-XPHC.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo. Bị cho rằng hành vị l n chiếm đ t là sai đã bị xử phạt hành chính nhiều lần nh ng bị cáo ch a nộp phạt vì bị cáo ngh o, ch a có chổ ở ổn định, kh ng biết việc l n chiếm đ t là sai đề nghị hội đồng xét xử xem xét Vì vậy, Hội đồng xét xử kh ng có c sở ch p nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên mức hình phạt nh bản án hình sự s thẩm là phù hợp .
. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguy n Thị C phải chịu 200.000 đồng.
. Các quyết định khác của bản án hình sự s thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
. Đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên ch p nhận.
. Đề nghị của luật s bào chữa cho bị cáo không phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử nên không ch p nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Khoản 1 Điều 228; điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Khoản 2 Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội .
1. Không ch p nhận kháng cáo của bị cáo Nguy n Thị C. Giữ nguyên bản án hình sự s thẩm số 57/2024/HS-STngày 16/9/2024 của tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Định.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguy n Thị C phải chịu 200.000 đồng.
3. Các quyết định khác của bản án hình sự s thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị .
4. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT1.TANDTC; - VKSND tỉnh Bình Định; - TA, VKS, CQĐT C ng an huyện P; - C quan THAHS Công an huyện P; - Chi cục THADS huyện P; - Sở T pháp tỉnh Bình Định; - C quan HSNV C ng an tỉnh Bình Định; - Các bị cáo; - L u: Hồ s vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC TH M TH M PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Thái Văn Hà |