- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 178/2023/HS-ST Ngày 29/9/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lèo Văn Hưởng, ông Hà Văn Tiêm.
- Thư ký phiên toà: Ông Hà Văn Tía, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Như Quỳnh, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 185/2023/TLST-HS ngày 15/9/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 185/2023/QĐXXST-HS ngày 18/9/2023 đối với bị cáo:
Lường Văn T, sinh ngày 28 tháng 5 năm 1998 tại thành phố S, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tổ 10, phường S, thành phố S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn S và bà Lường Thị D; bị cáo có vợ Lò Thị K và có 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/6/2023 đến nay. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lường Văn S, sinh năm 1974; địa chỉ: Tổ 10, phường S, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ ngày 22/6/2023, tổ công tác Công an phường C làm nhiệm vụ tại khu vực bản B, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La phát hiện Lường Văn T có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 01 gói giấy bạc bên trong có 03 viên nén đồng dạng màu hồng (T lấy trong túi quần đang mặc ra giao nộp, khai là ma túy hồng phiến của Lường Văn T vừa mua để sử dụng). Tạm giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát xxx.
Ngày 22/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng và lấy mẫu giám định chất ma túy. Kết quả cân tịnh: Số vật chứng thu giữ của Lường Văn T 03 viên nén có khối lượng 0,28 gam; lấy 01 viên nén có khối lượng 0,09 gam làm mẫu gửi giám định, ký hiệu H1; còn 02 viên nén có khối lượng 0,19 gam làm mẫu lưu kho, ký hiệu H2.
Tại Kết luận giám định số 1606/KL-KTHS ngày 25/6/2023, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu ký hiệu H1 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,09 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,28 gam; loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra, Lường Văn T khai nhận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 22/6/2023, Lường Văn T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát xxx từ nhà ở tổ 10, phường S, thành phố Sơn La đến khu vực Bệnh viện S thuộc bản B, phường C, thành phố Sơn La tìm mua ma túy sử dụng. Đến cách bệnh viện khoảng 50 mét, Lường Văn T dừng xe, đi bộ đến khu vực gần cổng chính bệnh viện gặp, hỏi, mua được của một người nam giới không quen biết 0,28 gam Methamphetamine gói bằng giấy bạc, với số tiền 200.000 đồng. T cất gói ma túy vào trong túi quần đang mặc và quay lại nơi để xe thì bị tổ công tác bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Đối với người bán ma túy, Lường Văn T khai không biết họ tên, tuổi và địa chỉ. Ngoài lời khai của Lường Văn T không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát xxx, quá trình điều tra xác định là tài sản đăng ký chủ sở hữu Lường Văn S (bố của Lường Văn T), ông T không biết việc bị cáo sử dụng xe máy đi mua và cất giữ ma túy. Ngày 18/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La đã trả chiếc xe cho ông S.
Bản cáo trạng số 479/CT-VKSTP ngày 14/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố Lường Văn T về tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Tuyên bố bị cáo Lường Văn T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Lường Văn T từ 14 tháng đến 18 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Không phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.
2. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy bạc; mẫu lưu H2=0,19 gam.
3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt, không có ý kiến gì về việc cơ quan điều tra trả lại xe cho ông S. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lường Văn S không đề nghị gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về quá trình tiến hành tố tụng:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo và trách nhiệm hình sự:
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi. Xét lời khai của bị cáo hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định và niêm phong lại, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 22/6/2023, Lường Văn T thực hiện hành vi cất giữ trái phép chất ma túy 0,28 gam Methamphetamine để sử dụng. Hành vi của bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố Lường Văn T về tội danh, điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo xâm phạm chế độ quản lý chất ma túy của nhà nước, thuộc loại tội phạm nghiêm trọng. Bị cáo khai nhận ngày 29/5/2018 đã bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng, đã hết thời hạn để coi là đã bị xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Cần xử phạt nghiêm khắc nhằm trừng trị và giáo dục bị cáo, răn đe phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[3] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, thu nhập lao động tự do, không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền.
[4] Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy vật chứng là chất ma túy và đồ vật liên quan, gồm vỏ phong bì niêm phong ban đầu, mảnh giấy bạc, mẫu lưu kho H2.
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La đã trả cho ông Lường Văn S: 01 xe mô tô biển kiểm soát xxx.
[5] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt Lường Văn T 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/6/2023.
Không phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo.
2. Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn do Công an tỉnh Sơn La phát hành còn nguyên niêm phong, giấy niêm phong số 060921. Mặt trước phong bì dán giấy ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Lường Văn T, SN: 1998 - Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 22/6/2023. Gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy bạc; mẫu lưu H2=0,19 gam”.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/9/2023 giữa Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La đã trả cho ông Lường Văn S: 01 xe mô tô biển kiểm soát xxx (Theo Biên bản trả tài sản ngày 18/8/2023).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Lường Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - VKSND thành phố Sơn La; - Công an thành phố Sơn La; - Chi cục THADS thành phố Sơn La; - Trại giam; - THAHS; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hồng Hạnh |