- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Quốc Hưng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 178/2023/HS-ST Ngày 30-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Ông Lưu Văn Tỉnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lương Thị Kim Dung
Bà Vũ Thị Minh Nguyệt
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Hoàng Trần Trọng An – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Thanh Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 160/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 181/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2023 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa xét xử sơ thẩm số 284/TB-TA ngày 24 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Đỗ Quốc H, sinh ngày 24/6/1987, tại Hải Phòng; nơi ĐKHKTT: A4-9.11 Chung cư E Hồ H, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: Số A B, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn N và bà Phạm Thị C; có vợ là Nguyễn Thị Kim P (đã ly hôn) và 03 con; tiền sự: Ngày 15/6/2020 Công an quận A1 thành phố H xử phạt hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích (đã được xoá); tiền án: Không; tạm giữ từ ngày 12/5/2022 đến ngày 18/5/2022 chuyển tạm giam; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 10 phút ngày 11/5/2022, tại Cảng hàng không Quốc tế C - Hải Phòng, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố H kết hợp cùng các lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện hành khách Đỗ Quốc H, sinh năm: 1987, HKTT: A4 - 9.11 chung cư E - A - B - thành phố Hồ Chí Minh và Nghi Anh Thùy D, sinh năm: 1993, HKTT: 006 lô E, chung cư N - phường E - quận H - thành phố Hồ Chí Minh đi chuyến bay VJ281 của hãng hàng không V1, đường B - thành phố Hồ Chí Minh có dấu hiệu Vận chuyển trái phép chất ma túy. Tiến hành kiểm tra thu giữ trong người Hưng 05 gói màu xanh cùng kích thước khoảng 10cm x 6cm trên các gói có chữ CRISPY FRUIT, bên trong các gói chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy; thu giữ trong hành lý xách tay của H và D một túi đựng chất bột, hai hộp đựng viên nén , 01 hộp đựng chất bột nghi có liên quan đến ma túy. Ngoài ra, lực lượng chức năng còn thu giữ của H 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu xanh, 01 Macbook nhãn hiệu Apple màu hồng và số tiền 200.000.000VNĐ (Hai trăm triệu đồng chẵn), 01 hộ chiếu và 01 thẻ lên tàu bay của Đỗ Quốc H; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu xanh, 01 Chứng minh nhân dân, 01 Hộ chiếu và 01 thẻ lên tàu bay của Nghi Anh T.
Tại bản kết luận giám định số 204 ngày 13/5/2022 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: số chất bột trong 05 gói thu giữ trong người của H là ma túy loại Methamphetamine và MDMA, có khối lượng 30,24 gam; 01 túi nilon chứa chất bột màu trắng, 02 hộp nhựa chứa các viên nén và 01 hộp nhựa màu hồng cao chứa chất bột màu trắng thu của H và D không tìm thấy thành phần các chất ma túy và tiền chất ma túy.
Tiến hành xét nghiệm nhanh nước tiểu của Đỗ Quốc H và Nghi Anh T đều cho kết quả âm tính với các chất ma túy.
Tiến hành khám xét khẩn cấp đối với Đỗ Quốc H, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố H không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Tại Cơ quan điều tra, ban đầu Đỗ Quốc H khai nhận: Cách ngày bị bắt khoảng 03 ngày, khi H đang ở nhà bố mẹ H tại 1 H, phường H, Hải Phòng thì nhận được điện thoại của người bạn xã hội tên Đ (H không biết lai lịch, địa chỉ cụ thể) hỏi H khi nào vào thành phố Hồ Chí Minh, khi được H trả lời khoảng 11/5/2022 thì Đ nhờ mang vào giúp Đ mấy gói trà dâu (ma túy đá). Khi nào H mang vào đến thành phố Hồ Chí Minh thì gọi Đ để lấy và giải quyết công nợ vợ chồng Đ còn nợ H. H đồng ý và nhận 05 gói trà dâu này từ một thanh niên tự xưng là em của Đ (H không biết lai lịch, địa chỉ) tại đầu ngõ N. Chiều 11/5/2022, H cất giấu 05 gói trà dâu này vào quần lót đang mặc rồi đi ra sân bay để bay vào thành phố Hồ Chí Minh, khi H đang làm thủ tục tại quầy an ninh sân bay thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt giữ.
Quá trình điều tra Đỗ Quốc H thay đổi lời khai như sau: Trưa ngày 11/5/2022, thông qua các hội nhóm trên mạng xã hội Facebook, H đã liên lạc qua V mua 01 túi ma túy đá giá 500.000VNĐ/1 túi và 02 viên thuốc lắc với giá thuốc lắc là 250.000VNĐ/1 viên của một người đàn ông không quen biết. Người này hẹn H đến khu vực Nhà hát L để giao dịch. Tại điểm hẹn, H thấy một người đàn ông (H không biết tên tuổi địa chỉ và nhận dạng của người này) đến và đưa cho H 01 túi ma túy đá và 02 viên thuốc lắc và dặn H xóa nhật ký cuộc gọi của H với người này. H đồng ý làm theo rồi đi về. Tại nhà, H đi lên phòng riêng lấy một tờ giấy bỏ toàn bộ số ma túy vừa mua được vào rồi dùng bật lửa nghiền nát. Tiếp đó, H lấy kéo thủ công cắt miệng 05 gói trà dâu và đổ hết số bột bên trong ra trộn đều với số ma túy vừa nghiền nát. H san đều số bột vừa trộn (ma túy đá, thuốc lắc và bột trà dâu) vào lại 05 vỏ gói trà dâu và dùng bật lửa hàn lại, tiếp đó H dùng bật lửa đốt tờ giấy vất đi. H cất giấu 05 gói trà dâu, bật lửa cùng chiếc kéo trên ở túi quần bên trái phía trước H đang mặc với mục đích mang vào thành phố Hồ Chí Minh sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 19 giờ 30 phút ngày 11/5/2022, H cùng D ra cảng hàng không C làm thủ tục bay vào thành phố Hồ Chí Minh. Trên đường ra sân bay, H vất bật lửa và chiếc kéo đi. Khi chuẩn bị qua cửa an ninh sân bay, H móc 05 gói trà dâu ở túi quần rồi giấu vào quần lót H đang mặc. Tại cửa kiểm tra an ninh, H bị lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện.
Ngoài ra H khai nhận việc mua, nghiền, trộn lẫn và đóng gói ma túy cũng như việc chuẩn bị các dụng cụ là 05 gói trà dâu, giấy, kéo và bật lửa để trộn lẫn với ma túy là do H một mình thực hiện, không cho ai biết. Việc khai nhận của H ban đầu về Đ là không đúng, khi bị bắt H cho rằng Đ không muốn trả nợ cho H nên báo công an để hại H, do đó, H khai sai cho Đ.
Tại cơ quan điều tra, Nghi Anh T khai nhận phù hợp với Đỗ Quốc H về việc H bị thu giữ ma túy trong người khi đang làm thủ tục tại sân bay C để bay vào thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình ở cùng H tại địa chỉ 1 H, phường H, Hải Phòng, D không biết và không tham gia cất giấu ma túy với H.
Tiến hành xác minh đối với đối tượng tên Đ xác định được là Trần Anh Đ1, sinh năm: 1988, ĐKTT: tổ C ngõ B T - N - L - Hải Phòng. Gia đình Đ1 đã bán nhà từ khoảng năm 2012, Đ1 không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ để xác minh, làm rõ.
Do trong quá trình điều tra, Đỗ Quốc H khai về việc mua ma túy về nghiền nát và trộn lẫn cùng bột trà rồi cất giấu trong người để mang vào thành phố Hồ Chí Minh sử dụng, để có căn cứ kết luận hành vi của H, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H đã ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung để xác định khối lượng chất ma túy Methamphetamine, MDMA có trong 30,24 gam chất bột màu trắng thu giữ của Đỗ Quốc H. Tại Bản kết luận giám định số 331/KL-KTHS(MT) ngày 14/4/2023 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận:
- Khối lượng chất ma túy Methamphetamine có trong 30,24 gam chất bột màu trắng là 0,08 gam.
- Khối lượng chất ma túy MDMA có trong 30,24 gam chất bột màu trắng là 1,36 gam.
Tiến hành trưng cầu giám định để xác định hàm lượng chất ma túy MDMA và M có trong 30,24 gam hỗn hợp chất ma túy và bột dâu thu giữ của Đỗ Quốc H, tại bản Kết luận giám định số 4050/KL-KTHS ngày 02/6/2023 của V2 - Bộ C1 kết luận: hàm lượng chất ma túy Methamphetamine và MDMA có trong hỗn hợp chất ma túy thu giữ của bị can Đỗ Quốc H lần lượt là 0,2% và 4,6% (tương đương với khối lượng chất ma túy Methamphetamine là 0,060 gam và MDMA là 1,391 gam).
Lời khai nhận của Đỗ Quốc H (bút lục 140-170) phù hợp với lời khai người chứng kiến Nghi Anh T (bút lục 103-111), vật chứng thu giữ, kết luận giám định (bút lục 49, 51, 176-179), kết quả thực nghiệm điều tra (bút lục 65-86), kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở xác định: Đỗ Quốc H có hành vi cất giấu trái phép 0,060 gam Methamphetamine và 1,391 gam MDMA nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang.
Vật chứng: số ma túy còn lại sau giám định, số chất bột và viên nén, 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu xanh, 01 hộ chiếu thu của Đỗ Quốc H, 02 vé máy bay mang tên Đỗ Quốc H và Nghi Anh T chuyển Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng chờ xử lý.
Đối với 01 Chứng minh nhân dân; 01 Hộ chiếu và 01 thẻ lên tàu bay mang tên Nghi A Thùy Duyên; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone màu xanh có số IMEI1: 356514412893741; IMEI2: 356514412997231, kèm theo 01 sim có số ICCID: 8984012011503378044. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H đã ra các Quyết định xử lý vật chứng; Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu để trả lại cho Nghi Anh Thùy D.
Đối với 01 Macbook nhãn hiệu Apple màu hồng, ốp màu xanh Serial: FVFCQ480M6KJ (đã qua sử dụng, máy có mật khẩu) và số tiền 200.000.000VNĐ (Hai trăm triệu đồng chẵn) thu trong hành lý của Đỗ Quốc H. Căn cứ tài liệu điều tra chiếc Macbook và số tiền trên là của Nghi Anh T. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu để trả lại cho Nghi Anh Thùy D.
Tại bản Cáo trạng số 161/CT-VKS-P1 ngày 24/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Đỗ Quốc H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Đỗ Quốc H thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đại diện Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến gì về khối lượng ma túy mà Viện kiểm sát đã truy tố cũng như các kết luận giám định, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm có cơ hội trở về với xã hội.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:
Căn cứ lời khai nhận của bị cáo, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Quốc H từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, số chất bột, viên nén và 02 vé máy bay mang tên Đỗ Quốc H và Nghi Anh T. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu xanh, trả lại bị cáo H 01 hộ chiếu mang tên Đỗ Quốc H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh:
Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, biên bản thu giữ, các kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở xác định: Ngày 11/5/2022 Đỗ Quốc H có hành vi mua và cất giấu trái phép 0,060 gam Methamphetamine và 1,391 gam MDMA để sử dụng cho bản thân, đến 20h giờ 10 phút cùng ngày thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang khi đang làm thủ tục tại quầy an ninh sân bay C để bay vào thành phố Hồ Chí Minh. Hành vi của bị cáo Đỗ Quốc H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết định khung:
Lượng Ma tuý bị cáo cất giấu trái phép là 0,060 gam Methamphetamine và 1,391 gam MDMA nên hành vi của bị cáo đã vi phạm tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. “Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này”.
Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, ma túy là tệ nạn xã hội, nghiện hút ma túy gây nguy hại cho sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, phá hoại hạnh phúc gia đình và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Vì vậy, cần xét xử nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự :
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Đỗ Quốc H thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo và khối lượng ma túy bị cáo đã tàng trữ, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo với mức án trên khởi điểm của khung hình phạt là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân không thu lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Số ma túy còn lại sau giám định không được phép sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; chất bột, viên nén và 02 vé máy bay mang tên Đỗ Quốc H và Nghi A Thùy Duyên không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu xanh liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước, 01 hộ chiếu thu của Đỗ Quốc H là giấy tờ cá nhân của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Bộ luật Hình sự xử phạt Đỗ Quốc H 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2022.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, chất bột, viên nén đựng trong 01 phong bì niêm phong ma tuý và bao bì niêm phong số: 4050/KL-KTHS, có dấu của V2 – Bộ C1 và chữ ký của Trần Tuấn T, Hoàng Thế T1; 01 phong bì có dấu niêm phong số 204MT-A/PC09 của Phòng K - Công an thành phố H và chữ ký của Nguyễn Văn D1, Nghi Anh T, Phạm Hoàng H1. Tịch thu tiêu huỷ 02 vé máy bay cấp cho Đỗ Quốc H và Nghi Anh T.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu xanh có số IMEI1: 538649250762632; IMEI2: 538649250732924, kèm theo 01 sim có số ICCID: 8984012011503378051 của Đỗ Quốc H.
Trả lại bị cáo H 01 hộ chiếu số C8113642 mang tên Đỗ Quốc H.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/8/2023 tại Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đỗ Quốc H phải nộp số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Vụ 1 – TANDTC; - TANDCC; VKSNDCC; - VKSND TP Hải Phòng; - PV06 Công anTP Hải Phòng; - Cục THADS TP Hải Phòng; - Sở Tư pháp TPHP; - Bị cáo; Trại tạm giam; - Người tham gia tố tụng; - Phòng KTNV và THA; - Lưu: HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Văn Tỉnh |