- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Dương Tuyết N được ly hôn với anh Võ Hoàng P.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 178/2023/HN - ST Ngày: 08 - 12 - 2023 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ - TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Tú
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Huỳnh Kim Phượng
2. Ông Lê Minh Toàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ.
Ngày 08 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 425/2023/TLST – HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 164/2023/QĐXXST - HN ngày 20 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Dương Tuyết N, sinh năm 1983 (có mặt)
2. Bị đơn: Anh Võ Hoàng P, sinh năm 1980 (xin vắng mặt).
Cùng trú tại: ấp A, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 02/10/2023 và tại phiên tòa – nguyên đơn chị Dương Tuyết N trình bày:
Qua quen biết chị N và anh Võ Hoàng P tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn trễ hạn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 22/4/2008. Vợ chồng sống chung đến 10/2020 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp thường xuyên cãi vã, vợ chồng chung sống không có sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, mạnh người nào người đó sống, không ai quan tâm gì đến ai. Chị và anh P không sống chung từ tháng 10/2020 cho đến nay, mạnh người nào người đó sống không ai quan tâm gì đến ai. Nay tình cảm vợ chồng không còn, không còn tình nghĩa, không thể hàn gắn được nên chị yêu cầu ly hôn với anh Võ Hoàng P.
Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Hoàng Tuấn K, sinh ngày 15/9/2008, chị đồng ý giao con cho anh P tiếp tục nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do anh P không yêu cầu chị cấp dưỡng nuôi con nên chị không cấp dưỡng nuôi con
Về tài sản chung: Chị N không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết
Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết
Bị đơn anh Võ Hoàng P có văn bản nêu ý kiến như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh P đồng ý ly hôn với chị Dương Tuyết N
Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Hoàng Tuấn K, sinh ngày 15/9/2008, anh P yêu cầu tiếp tục nuôi con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh P không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con
Về tài sản chung: Anh P không tranh chấp nên không yêu cầu giải quyết
Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết
Anh P xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “ly hôn”, do bị đơn hiện đang cư trú tại xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Căn cứ vào quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long
Về thủ tục tố tụng: Anh Võ Hoàng P có đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh P theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn số 43, quyển 01 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long cấp ngày 22/4/2008 có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh P là hôn nhân hợp pháp.
Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh P đã có nhiều bất hòa, mâu thuẫn trầm trọng. Trên thực tế, đời sống hôn nhân giữa chị N và anh P không còn gắn bó, mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn, cuộc sống chung của vợ chồng không hạnh phúc, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, mạnh ai nấy sống, vợ chồng không sống chung từ năm 2020 đến nay nên tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng hàn gắn, anh P cũng đồng ý ly hôn với chị N. Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình yêu cầu ly hôn của chị N là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị N được ly hôn với anh P.
Về con chung: Xét thấy cháu Võ Hoàng Tuấn K, sinh ngày 15/9/2008 hiện do anh P đang nuôi dưỡng, cháu K có nguyện vọng được tiếp tục sống với anh P và chị N cũng đồng ý giao cháu K cho anh P tiếp tục nuôi dưỡng. Để đảm bảo sự phát triển về mặt thể chất và tinh thần, đồng thời để đảm bảo quyền lợi của trẻ em sau khi ly hôn, nên Hội đồng xét xử giao cháu Võ Hoàng Tuấn K cho anh P tiếp tục nuôi dưỡng
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh P không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét.
Về tài sản chung: Chị N và anh P không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét
Về nợ chung: Chị N và anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết, không xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Buộc chị N phải chịu 300.000đ tiền án phí Hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 147, 228 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Dương Tuyết N được ly hôn với anh Võ Hoàng P.
2. Về con chung: Giao cháu Võ Hoàng Tuấn K, sinh ngày 15/9/2008 cho anh Võ Hoàng P tiếp tục nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh P không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con chung, nên không xem xét.
4. Về tài sản chung: Chị N và anh P không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về án phí sơ thẩm: Buộc chị Dương Tuyết N nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân sơ thẩm. Chị N đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0005314 ngày 03/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Hồ nên được khấu trừ qua.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Chị Dương Tuyết N được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Võ Hoàng P được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long - VKSND huyện Long Hồ; - Chị cục THADS huyện Long Hồ; - Các đương sự; - Lưu VP, HS./. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đặng Thị Ngọc Tú |