vanban.org

Bản án 178/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 10/08/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Thế V.

Về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Tuyết L trả số tiền 49.000.000 đồng. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Phan Thế Vinh"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Thế V.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463 Bộ luật Dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ CÀ MAU,
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 178/2023/DS -ST
Ngày 10 tháng 8 năm 2023
“V/v hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trương Công Minh

Ông Võ Thanh Liêm

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thúy Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

Ngày 10 tháng 8 năm 2023, tại Điểm cầu Trung tâm của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau và điểm cầu Thành phần của Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Cà Mau mở phiên tòa trực tuyến Ptiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 305/2023/TLST - DS ngày 07 tháng 6 năm 2023 về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 245/2023/QĐXXST- DS ngày 21/7/2023 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Phan Thế V, Sinh năm: 1951(có mặt).

Địa chỉ cư trú: số , đường Lý Văn L, khóm , phường , thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông V: Ông Ngô Đức B – Là trợ giúp viên pháp lý nhà nước tỉnh Cà Mau (có mặt).

* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết L, Sinh năm: 1955 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Số , đường Nguyễn T, khóm , phường , thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Ông Phan Thế V là nguyên đơn trình bày tại đơn khởi kiện và tại phiên tòa như sau:

Do quen biết với nhau nên bà Nguyễn Thị Tuyết L có vay của ông V các lần như sau:

Vào ngày 26/8/2015 bà Nguyễn Thị Tuyết L vay số tiền 80.000.000 đồng, có kèm theo biên nhận.

Ngày 16/8/2015 bà L vay thêm 120.000.000 đồng, trả lãi được 2.000.000 đồng.

Tổng số tiền vốn vay 200.000.000 đồng, đóng lãi được 04 tháng thì ngưng không trả nữa. Sau đó hai bên có viết biên nhận nợ ngày 01/5/2016, tiếp tục bà L trả được vốn 6.000.000 đồng, còn thiếu lại 194.000.000 đồng tiền vốn. Biên nhận ngày 01/5/2016 bà L xin không trả lãi, ông đồng ý cho bà L góp mỗi tháng tiền vốn cho ông 5.000.000 đồng, tuy nhiên bà L xin trả mỗi tháng 4.500.000 đồng, mỗi ngày 150.000 đồng, đến năm 2019 bà L trả được 145.000.000 đồng, đến năm 2020 bà L còn thiếu 49.000.000 đồng.

Nay ông yêu cầu bà L phải thanh toán cho ông số tiền vốn 49.000.000 đồng.

Quá trình giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn thừa nhận chữ ký là của ông V ký còn chữ viết “tôi đã nhận đủ và chữ ghi Phan Thế V” không phải của ông viết ra. Tại phiên tòa ông không yêu cầu giám định chữ viết hàng chữ “tôi đã nhận đủ”.

* Bà Nguyễn Thị Tuyết L là bị đơn trình bày:

Bà L thừa nhận có vay của ông V bắt đầu từ tháng 10/2014 vay nhiều lần, lần nhiều nhất 80.000.000 đồng,cuối năm 2015 tổng vốn vay bằng 200.000.000 đồng, lãi suất 5%/tháng, đến ngày 01/5/2016 dương lịch, ông V không tính lãi, quá trình vay bà có thanh toán hàng tháng cho ông V cuối năm 2016 thanh toán vốn 600.000.000 đồng, số tiền vốn còn lại 194.000.000 đồng, có biên nhận. Mỗi tháng bà trả vốn bằng 4.500.000 đồng, cho đến khi hết nợ, mỗi lần trả ông V đều ký tên xác nhận, tuy nhiên do không có điều kiện bà góp mỗi ngày 200.000 đồng, tính ra mỗi tháng đóng 6.000.000 đồng, đến ngày 20/9/2020 trả được 49.000.000 đồng, ông V có ký nhận xác định chữ ký của ông V (số tiền này bà vay Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt – Chi nhánh Cà Mau ngày 19/8/2020 được 84.000.000 đồng để trả nợ cho ông V). Bà yêu cầu ông V cung cấp biên nhận bà nợ 49.000.000 đồng, do bà và ông V ký tên.

Bà xác định chữ ký và chữ ghi ngày 20/9/2020 tôi đã nhận đủ là do ông V ký và ghi.

Nay bà xác định không còn nợ ông V bà không đồng ý yêu cầu của ông V.

* Ông Ngô Đức B trình bày tranh luận: Việc vay nợ hai bên bà L nợ ông V số tiền 200.000.000 đồng là có, quá trình vay bà L trả nợ nhiều lần, số tiền còn lại 49.000.000 đồng, chưa trả là có căn cứ, vì các lần đưa tiền ông V có ký tên. Phần ghi ngày 20/9/20220 tôi đã nhận đủ là chèn vào phần xác nhận nợ 49.000.000 đồng, nên không có căn cứ trả là phù hợp, bởi số tiền nhận 49.000.000 đồng là số tiền lớn mà không làm biên nhận là không phù hợp. Do đó Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Phan Thế V buộc bà Nguyễn Thị Tuyết L phải thanh toán số tiền 49.000.000 đồng cho ông Phan Thế V, án phí ông V được miễn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ tranh chấp: Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, có thỏa thuận lãi suất.

Xét yêu cầu của nguyên đơn thấy rằng tờ biên nhận nợ ghi ngày 01/5/2016, bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết L có ký tên vào tờ biên nhận với số tiền vay 200.000.000 đồng. Quá trình vay bà L đã trả vốn 6.000.000 đồng, ngày 01/5/2016 dương lịch, mỗi tháng bà L trả 5.000.000 đồng, nếu có thu nhập thêm thì trả thêm khi nào hết số tiền, bà L cam kết trả vốn ngày 150.000 đồng, tháng 4.500.000 đồng, cho đến hết số nợ.

Cho nên, tờ biên nhận nợ là chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp để làm căn cứ giải quyết vụ án và bà L cung cấp chứng cứ sổ theo dõi lịch trình trả nợ của bà với ông V đến ngày 20/9/2020 ông V có ký tên phần còn nợ 49.000.000 đồng.

Tại phiên tòa nguyên đơn yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết L trả vốn 49.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi, còn bị đơn bà L cho rằng đã thanh toán xong từ đó hai bên tranh chấp.

Chứng cứ do đương sự cung cấp sổ theo dõi lịch trả nợ của bà L ghi được ông Phan Thế V thừa nhận ký tên nhiều lần vào sổ theo dõi mỗi khi trả nợ hai bên đối chiếu và ký tên xác nhận vào. Tại phần cuối cùng sổ theo dõi nợ của bà L do bà L cung cấp, thấy rằng ông Phan Thế V có ký tên xác nhận số tiền còn lại là 49.000.000 đồng và ký tên có ghi dòng chữ ngày 20/9/2020 tôi đã nhận đủ, tại tòa ông V thừa nhận chữ ký là của ông V, còn phần chữ viết ghi “ngày 20/9/2020 tôi đã nhận đủ” không phải do ông ghi, quá trình hòa giải ông V có yêu cầu giám định chữ viết trên, nhưng tại phiên tòa ông V xác định không yêu cầu, nên Tòa án căn cứ vào chứng cứ mà đương sự cung cấp để giải quyết vụ án. Chứng cứ thể hiện ông Phan Thế V ký tên và ghi dòng chữ tôi đã nhận đủ, nên yêu của nguyên đơn không có căn cứ chấp nhận.

Ngoài ra sổ theo dõi trả nợ thì thời gian bà L vay nợ ngày 20/8/2020 đến ngày 10/9/2020 giải ngân, ngày 22/8/2020 bà L trả 3.000.000 đồng, số tiền còn lại 49.000.000 đồng, đến ngày 20/9/2020 trả đủ 49.000.000 đồng là phù hợp với chứng cứ vay của bà L tại Ngân hàng để trả nợ cho ông V.

Đối với việc trả nợ các bên đương sự thừa nhận có trả lãi số tiền vay, tuy nhiên tại phiên tòa các đương sự không đặt ra yêu cầu xem xét việc tính lãi, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Do nguyên đơn không có chứng cứ, chứng minh bà L chưa trả số tiền trên ngoài biên nhận nợ và sổ theo dõi nợ hai bên. Từ phân tích trên không nhận yêu cầu của ông Phan Thế V buộc bà Nguyễn Thị Tuyết L thanh toán số tiền 49.000.000 đồng là có căn cứ.

Áp dụng Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định án phí, lệ phí Tòa án, Nguyên đơn phải nộp án phí do người cao tuổi có đơn xin miễn dự nộp nên được miễn theo quy định, bị đơn không phải nộp án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng các Điều 463; 466; 468 của Bộ luật dân sự;

- Căn cứ các Điều 143 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Thế V.

Về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Tuyết L trả số tiền 49.000.000 đồng.

2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Ông Phan Thế V phải nộp án phí, do người cao tuổi được miễn theo quy định.

Bị đơn không phải nộp án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Cỡ chữ