- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản Ngân hàng D - Trần Ngọc Q"
- Tòa quyết gì? Điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 178/2023/DS-ST Ngày: 28 – 8 – 2023 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thùy Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Văn Khon.
2. Ông Trần Quang Vinh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Phụng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình thanh gia phiên tòa: Bà Nguyễn Trà My – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 09, 28 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 206/2023/TLST-DS ngày 08 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp về dân sự hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 188/2023/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H (H1).
Địa chỉ trụ sở: Số B B, đường N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T; chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện hợp pháp của ông Phạm Quốc T: Ông Phạm Thiện H; chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Đ, là người đại theo ủy quyền (Theo văn bản ủy quyền số: 2953/2022/QĐ-TGĐ ngày 11/11/2022).
Người đại diện hợp pháp của ông Phạm Thiện H: Anh Nguyễn Trí T1; chức vụ: Chuyên viên QHKHCN – Chi nhánh Đ.
Địa chỉ: Số F L, Phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, là người đại theo ủy quyền (Theo văn bản ủy quyền ngày 18/5/2023).
- Bị đơn: Anh Trần Ngọc Q, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Anh Nguyễn Trí T1 có mặt tại phiên tòa; anh Trần Ngọc Q vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 17/5/2023, biên bản lấy lời khai, biên bản phiên họp - hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H trình bày:
Ngày 22/11/2022, anh Trần Ngọc Q ký Đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán/sản phẩm – dịch vụ, để vay tiền của Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) với hạn mức là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng); thời hạn sử dụng thẻ là 03 năm; mục đích vay là để mở thẻ tín dụng tiêu dùng – không tài sản đảm bảo; lãi suất 36%/năm. Sau khi ký hợp đồng anh Q đã sử dụng tiền từ thẻ tín dụng theo thỏa thuận.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, anh Q đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi đến hạn đã thỏa thuận trong Đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán/sản phẩm – dịch vụ nêu trên, cụ thể anh Q đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi đến hạn thanh toán vào kỳ sao kê tháng 01/2023 từ ngày 15/02/2023 và không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi khi đến cuối kỳ hạn thanh toán vào ngày 03/3/2023. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, mời làm việc yêu cầu trả nợ nhưng anh Q vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng.
Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H yêu cầu anh Trần Ngọc Q phải thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ nợ gốc và lãi, phí tạm tính đến ngày 28/8/2023 số tiền gốc là 29.998.394 đồng (Hai mươi chín triệu, chín trăm chín mươi tám nghìn, ba trăm chín mươi bốn đồng), tiền lãi là 5.281.362 đồng (Năm triệu, hai trăm tám mươi một nghìn, ba trăm sáu mươi hai đồng), tiền phí là 3.119.828 đồng (Ba triệu, một trăm mười chín nghìn, tám trăm hai mươi tám đồng), tổng cộng là 38.399.584 đồng (Ba mươi tám triệu, ba trăm chín mươi chín nghìn, năm trăm tám mươi bốn đồng); đồng thời, yêu cầu anh Q phải tiếp tục thanh toán số tiền lãi, tiền phí phát sinh đối với số tiền nợ còn lại theo thỏa thuận tại Đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán/sản phẩm – dịch vụ ngày 22/11/2022 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Bị đơn anh Trần Ngọc Q: Anh Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ theo quy định, nhưng anh Q vắng mặt tại phiên tòa và không có văn bản trình bày ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H.
Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án gồm:
- Đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán/sản phẩm – dịch vụ ngày 22/11/2022 (Bản photo, đã đối chiếu bản chính)
- Phiếu chiết tính lãi thẻ tín dụng ngày 28/8/2023 (Bản chính);
- Kết quả xác minh ngày 21/7/2023 của Công An xã T, huyện T về việc cư trú của anh Trần Ngọc Q (Bản chính).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Theo yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là “Tranh chấp về dân sự hợp đồng tín dụng”, Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Trần Ngọc Q hiện nay cư trú tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, nên nguyên đơn khởi kiện vụ án tại Tòa án nơi bị đơn cư trú là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Anh Trần Ngọc Q được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Q theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành thu thập chứng cứ, nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Về nội dung:
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H xác định Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh Trần Ngọc Q phải thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ nợ gốc và lãi, phí tạm tính đến ngày 28/8/2023 số tiền gốc là 29.998.394 đồng (Hai mươi chín triệu, chín trăm chín mươi tám nghìn, ba trăm chín mươi bốn đồng), tiền lãi là 5.281.362 đồng (Năm triệu, hai trăm tám mươi một nghìn, ba trăm sáu mươi hai đồng), tiền phí là 3.119.828 đồng (Ba triệu, một trăm mười chín nghìn, tám trăm hai mươi tám đồng), tổng cộng là 38.399.584 đồng (Ba mươi tám triệu, ba trăm chín mươi chín nghìn, năm trăm tám mươi bốn đồng); đồng thời, yêu cầu anh Q phải tiếp tục thanh toán số tiền lãi, tiền phí phát sinh đối với số tiền nợ còn lại theo thỏa thuận tại Đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán/sản phẩm – dịch vụ ngày 22/11/2022 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Căn cứ vào Đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán/sản phẩm – dịch vụ ngày 22/11/2022, có cơ sở xác định Ngân hàng có cho anh Q vay tiền với hình thức cấp thẻ tín dụng cá nhân, hạn mức tín dụng là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng). Nội dung Đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán/sản phẩm – dịch vụ ngày 22/11/2022 cho thấy tại thời điểm Ngân hàng cho anh Q vay tiền thì các bên đều tự nguyện, có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch về việc vay tiền, mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Căn cứ vào các bảng sao kê tín dụng hàng tháng và phiếu chiết tính lãi thẻ tín dụng của Ngân hàng, thể hiện anh Q đã sử dụng tiền từ thẻ tín dụng và còn nợ số tiền gốc là 29.998.394 đồng; không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi đến hạn thanh toán vào kỳ sao kê tháng 01/2023 từ ngày 15/02/2023 và không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi khi đến cuối kỳ hạn thanh toán vào ngày 03/3/2023. Như vậy, anh Q đã vi phạm thỏa thuận tại hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với Ngân hàng. Khoản 1 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng”. Do đó, Ngân hàng yêu cầu anh Q trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 29.998.394 đồng là phù hợp quy định pháp luật.
Về lãi suất, tại Đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán ngày 22/11/2022 giữa Ngân hàng và anh Q có thỏa thuận: “đã đọc, hiểu cam kết tuân thủ những quy định của pháp luật, đồng ý sử dụng và chấp nhận bị ràng buộc và tuân thủ các điều khoản và điều kiện liên quan đến việc sử dụng tài khoản thanh toán – Sản phẩm, dịch vụ hoặc các văn bản khác có giá trị tương đương, Biểu phí dịch vụ của H1”. Theo thỏa thuận, anh Q có trách nhiệm trả tiền lãi, tiền phí hàng tháng theo quy định của Ngân hàng. Khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Như vậy, thỏa thuận về tiền lãi và phí giữa Ngân hàng với anh Q là phù hợp quy định pháp luật. Tuy nhiên, đến nay anh Q không thực nghĩa vụ trả nợ lãi, nợ phí cho Ngân hàng đầy đủ. Do đó, Ngân hàng yêu cầu anh Q trả số tiền lãi và phí tính đến ngày 28/8/2023 và tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tại Đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán/sản phẩm – dịch vụ ngày 22/11/2022 cho đến khi thanh toán xong nợ gốc là có căn cứ.
Ngân hàng cam đoan và chữ viết họ tên của người sử dụng thẻ tín dụng tại Đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán/sản phẩm – dịch vụ ngày 22/11/2022 là của anh Trần Ngọc Q, đồng thời cam đoan anh Q là người sử dụng thẻ tín dụng với anh Q là bị đơn trong vụ án là cùng một người, nếu sau này phát sinh tranh chấp việc anh Q đã trả xong tiền nợ cho Ngân hàng, thì Ngân hàng hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Anh Trần Ngọc Q đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng anh Q không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Q, nên Hội đồng xét xử không xem xét ý kiến hay yêu cầu của anh Q.
Từ các nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là phù hợp với quy định pháp luật.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, do đó được chấp nhận.
Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nên anh Trần Ngọc Q phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 21, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147 , điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Khoản 1 Điều 117 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Khoản 2 Điều 91, khoản 1, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H.
Buộc anh Trần Ngọc Q trả cho Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H số tiền gốc là 29.998.394 đồng (Hai mươi chín triệu, chín trăm chín mươi tám nghìn, ba trăm chín mươi bốn đồng), tiền lãi là 5.281.362 đồng (Năm triệu, hai trăm tám mươi một nghìn, ba trăm sáu mươi hai đồng), tiền phí là 3.119.828 đồng (Ba triệu, một trăm mười chín nghìn, tám trăm hai mươi tám đồng), tổng cộng là 38.399.584 đồng (Ba mươi tám triệu, ba trăm chín mươi chín nghìn, năm trăm tám mươi bốn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn, tiền phí của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc anh Trần Ngọc Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.919.000 đồng (Một triệu, chín trăm mười chín nghìn đồng).
Trả cho Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 829.000 đồng (Tám trăm hai mươi chín nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0002102 ngày 06/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/8/2023). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Thanh Bình; - CC THA DS huyện Thanh Bình; - TAND tỉnh Đồng Tháp; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dƣơng Thị Thùy Trang |