- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma tuý’’.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 178/2022/HSST Ngày: 29/12/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đức Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lý Thanh Thuỷ
Bà Vũ Thị Lan Hương
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Sơn, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Thoa – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 147/2022/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 179/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
TRẦN VĂN H, tên gọi khác: Không;
Sinh ngày 14/4/1977 tại thành phố L, tỉnh Lào Cai. Nơi cư trú: Tổ 3, phường N, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Tân D (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị N (đã chết); Vợ: Trần Thị C, sinh năm 1985; Con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/10/2022, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Lào Cai, có mặt tại phiên tòa.
- Người chứng kiến: Anh Đỗ Văn Th, địa chỉ: Tổ 8, phường N, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
NHẬN THẤY:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 11/10/2022, do có nhu cầu sử dụng chất ma tuý nên Trần Văn H đi xe đạp của Trần Tuấn A (là con trai bị cáo) đến khu vực đường Phùng Chí Kiên thuộc tổ 12, phường Nam Cường, thành phố Lào Cai mua của một người đàn ông không quen biết có tên là Cường 01 gói giấy bên trong chứa 04 gói ma tuý Hêrôin với giá 200.000 đồng. Đến 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi Trần Văn H đi về đến khu vực đường Đan Đường thuộc tổ 12, phường Nam Cường, thành phố Lào Cai để tìm chỗ sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường Nam Cường phối hợp với Đội cảnh sát điều tra tội phạm ma tuý Công an thành phố Lào Cai tiến hành kiểm tra. Trần Văn H đã tự nguyện giao nộp 04 gói ma tuý vừa mua, mục đích cất giấu để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản thu giữ vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại Kết luận giám định số 252/GĐMT ngày 14/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai đã kết luận: 0,17 gam chất bột khô màu trắng thu giữ của Trần Văn H gửi đến giám định là loại chất ma túy Heroin.
Cơ quan giám định tiến hành trích mẫu 0,04 gam Heroine để tiến hành giám định. Còn lại 0,13 gam Heroine tái niêm phong, hoàn trả lại cơ quan trưng cầu.
Cáo trạng số 137/CT-VKS ngày 16 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố Trần Văn H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Trần Văn H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Áp dụng điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu tiêu hủy số vật chứng còn lại sau giám định, tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia của bị cáo để đảm bảo công tác thi hành án dân sự. Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Trần Văn H khai nhận toàn bộ sự việc phạm tội như nội dung bản cáo trạng truy tố và không có ý kiến tranh luận gì với luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì có thái độ thành khẩn khai báo.
Người chứng kiến là anh Đỗ Văn Thắng vắng mặt tại phiên toà, tuy nhiên các lời khai có trong hồ sơ của anh Thắng đều phù hợp với diễn biến, sự việc mà anh chứng kiến khi tổ công tác thu giữ vật chứng của Trần Văn H tại khu vực tổ tổ 12, phường Nam Cường, thành phố Lào Cai như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Trần Văn H tại phiên tòa phù hợp vớ i lờ i khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản thu giữ vật chứng, phù hợp với kết luận giám đi ̣nh của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa . Do vậy có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 11/10/2022, bị cáo Trần Văn H đã có hành vi tàng trữ 0,17 gam Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
1.“Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a)….
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Hành vi của bị cáo Trần Văn H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố Lào Cai. Vì vậy cần phải xử lý bị cáo nghiêm minh trước pháp luật, có một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, bị cáo có bố đẻ là ông Trần Tân Dân được tặng thưởng Huân chương Chiến sỹ giải phóng hạng Hai. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự.
Về nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người đã sử dụng chất ma tuý, tại thời điểm bị bắt đưa đi xét nghiệm, kết quả xét nghiệm cho thấy trong cơ thể của bị cáo có chứa chất ma tuý. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, căn cứ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
Vật chứng còn lại gồm:
- 0, 13 gam ma tuý Heroine còn lại sau giám định được tái niêm phong bằng 01 bì thư của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lào Cai. Một mặt bì thư có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ trong khi bắt quả tang Trần Văn H ngày 11/10/2022 tại tổ 12, phường Nam Cường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai”. Xét thấy đây là chất ma tuý thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu huỷ.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng của bị cáo, xét thấy bị cáo phải thi hành khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm nên cần tạm giữ chiếc điện thoại này để đảm bảo thi hành án.
- Đối với chiếc xe đạp mà bị cáo sử dụng để đi mua ma tuý, xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai đã trả lại cho chị Trần Thị Cúc là người quản lý hợp pháp tài sản là có căn cứ.
Đối với đối tượng mà bị cáo khai tên là Cường là người đã bán ma tuý cho bị cáo. Quá trình điểu tra và tại phiên toà không làm rõ được lai lịch, địa chỉ của đối tượng này nên không có cơ sở để xử lý.
. Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2
Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma tuý’’.
Xử phạt bị cáo Trần Văn H 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/10/2022.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 0,13 gam ma tuý Heroine còn lại sau giám định được tái niêm phong bằng 01 bì thư của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lào Cai. Một mặt bì thư có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ trong khi bắt quả tang Trần Văn H ngày 11/10/2022 tại tổ 12, phường Nam Cường, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai”.
- Tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, số seri 357705108168538 đã qua sử dụng của bị cáo Trần Văn H để đảm bảo công tác thi hành án.
Xác nhận các vật chứng trên, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai đã chuyển giao sang Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai theo nội dung biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21/11/2022.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
N¬i nhËn:
| - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh - VKSNDTP; - Đội CSHTTP - Bộ phận QLHS - Bị cáo; - Chi cục THADS - Sở Tư phá p; - Lưu hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Đức Thịnh |