vanban.org

Bản án 178/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 26/12/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/12/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1].Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lâm Xuân H, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

Tuyên bố: Bị cáo Lâm Xuân H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Lâm Xuân H 02 (hai) năm 06 ( sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam 22/3/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "mua bán trái phép chất ma tuý - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1].Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lâm Xuân H, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 178 /2019/ HS - PT.
Ngày: 26 - 12 - 2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Gia Lương.

Các thẩm phán: Ông Hà Văn Nâu.

Bà Nguyễn Thị Kim Dung.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Tố Hoa - Cán bộ Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hồng Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 26/12/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 257/TLPT- HS ngày 04 tháng 11 năm 2019, đối với bị cáo Lâm Xuân H, do có kháng cáo của bị cáo Lâm Xuân H đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 50/2019/HS-ST ngày 27/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lâm Xuân H, sinh năm 1983;

Nơi cư trú: thôn ĐP, xã TY, huyện Y, tỉnh BG; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Lâm Xuân H1, sinh năm 1935.

Con bà: Hoàng Thị L, sinh năm 1951.

Vợ là: Trần Thị P, sinh năm 1987; có 02 con lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2016;

Tiền án, Tiền sự: không;

Nhân thân:

+ Bản án số: 17/HSST ngày 21/5/2002 của Tòa án nhân dân huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 19 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Bản án số: 78/2011/HSST ngày 29/9/2011 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 20 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 86 ngày 06/10/2014 của Công an huyện Lục Nam, phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/3/2019 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang (Có mặt tại phiên toà).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Anh NLQ1, sinh năm 1970 ( Vắng mặt).

Địa chỉ: Tiểu khu 3, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang

2. Anh NLQ2, sinh năm 1970 ( Có mặt).

Địa chỉ: khu dân cư Đại Bát, phường Hoàng Tân, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

* Người làm chứng:

1. Anh NLC1 sinh năm 1993 ( Vắng mặt).

Địa chỉ: thôn MP, xã NS, huyện Y, tỉnh Bắc Giang

2. Anh NLC2, sinh năm 1963 ( Vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố CN, phường C, tp C, tỉnh Hải Dương.

3. Anh NLC3, sinh năm 1971 ( Vắng mặt).

Địa chỉ: thôn HL, xã YL, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diên biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 22/3/2019, Lâm Xuân H ở nhà nghỉ Hàm Rồng của anh NLC3, sinh năm 1971 ở thôn HL, xã YL, huyện Y thì thấy NLQ2 điều khiển xe ô tô BKS 37A - 0762 là xe ô tô của NLQ2 đến quán của anh NLC3 chơi. Đi cùng với NLQ2 có NLC2, sinh năm 1963 ở tổ dân phố CN, phường C, tp C, tỉnh Hải Dương. Do quen biết từ trước nên khi gặp NLQ2, H có hỏi NLQ2 có đi lên thành phố Bắc Giang không cho H đi nhờ, NLQ2 nói xe đang hết dầu và bảo H có tiền cho xin ít để đổ dầu, H bảo NLQ2 là cứ vào trong nhà nghỉ đã. Sau đó NLC2 vào phòng 1 gần cầu thang tầng 1 nhà nghỉ gặp và nói chuyện với anh NLC3 chủ quán, NLQ2 vào chào hỏi anh NLC3 sau đó ra ngoài phòng khách ngồi chơi. Khoảng 15 đến 16 giờ cùng ngày, NLQ1, sinh năm 1970 ở Tiểu khu 3, thị trấn N, huyện Y đến nhà nghỉ Hàm Rồng vào trong gặp H ở phòng 2 tầng 1 nhà nghỉ, thấy trong phòng có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy “đá”, một lúc sau, H cùng NLQ1 sử dụng ma túy (ma túy có sẵn trong bộ dụng cụ sử dụng ma túy). Sau khi sử dụng ma túy xong, NLQ1 nói với H “đồ ngon đó, em còn không để lại cho anh một ít”, H bảo với NLQ1 để em hỏi cho. H đi ra ngoài một lúc sau quay lại nói với NLQ1 “còn 2 triệu đấy có lấy được không”, NLQ1 bảo không đủ tiền. H đi ra ngoài cùng NLQ2, NLC2 xuống phòng hát số 02VP quán karaoke Anh Đào để hát. Một lúc sau NLQ1 ra ngoài gặp NLC1, sinh năm 1993 ở thôn MP, xã NS, huyện Y; Huỳnh Hồng Hoa, sinh năm 1998 quê quán ở Ấp Bảy Thưa, xã Tân Thành, thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang và Phạm Thị Mỹ Ngân, sinh năm 2001 quê quán ở Ấp Long Hưng, xã Lục Sỹ Thành, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long đến để hát Karaoke. NLQ1 cùng Diễn, Ngân, Hoa thuê phòng số 01VP quán karaoke Anh Đào để hát. Hát được khoảng 30 phút, NLQ1 đi ra ngoài gặp H đứng ở cửa quán, thấy NLQ1, H bảo NLQ1 sang hát giao lưu cho vui, NLQ1 đồng ý. NLQ1, Diễn, Ngân, Hoa sang phòng số 02 VP hát cùng H, NLQ2, NLC2. Khi mọi người đang hát, H lên phòng nghỉ lúc trước lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa đựng nước có nắp màu trắng, trên nắp có cắm ống hút nhựa và cóng thủy tinh) xuống phòng hát đặt trên bàn, H lấy ra 01 gói nilon màu trắng bên trong đựng tinh thể màu trắng là ma túy dạng “Đá”, rồi dùng ống hút nhựa xúc ma túy vào trong cóng để sử dụng. Khi H đang xúc ma túy, NLQ1 nói với H “để lại cho anh 200.000 đồng tiền “hàng” để tối về anh chơi” (“hàng” tức là ma túy). NLQ1 đưa cho H 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, H cầm tiền đưa cho NLQ2, NLQ2 cầm tờ 200.000 đồng H đưa cất dấu vào túi quần phía sau bên phải đang mặc, H xúc ma túy vào một gói nilon khác gói lại đưa cho NLQ1, NLQ1 cầm gói nilon hàn kín lại, nhặt 01 gói giấy kẹo lạc trên bàn gói lại và dùng một mảnh nilon khác gói, hàn kín lại rồi cất vào trong túi áo ngực bên trái. H, NLQ2, NLC2, NLQ1 cùng nhau sử dụng ma túy “Đá” bên trong phòng hát. Một lúc sau H nghe điện thoại xong đi ra khỏi phòng hát, ngay sau đó khoảng 17 giờ 40 phút, Cơ quan điều tra Công an huyện Y đến mời H quay lại phòng hát và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật gồm:

+ Thu giữ trong túi áo ngực phía trước bên trái của NLQ1 01 gói nilon màu trắng, mở ra bên trong đựng một gói giấy mặt ngoài có dòng chữ “KẸO LẠC VỪNG NGỌC QUÝ” màu đỏ, mặt trong màu trắng, mở ra bên trong đựng một gói nilon màu trắng hàn kín xung quanh, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy (được niêm phong trong 01 phong bì thư ký hiệu QT1).

+ Thu giữ của Lâm Xuân H 01 chiếc ví giả da màu nâu, bên trong có 3.130.000đ; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Jupiter BKS 98B3- 391.24.

+ Thu giữ trên đỉnh chiếc loa màu đen gần màn hình ti vi 01 chiếc túi sách màu nâu đen, bên trong đựng 1 điện thoại di động Nokia màu đen (không có pin) và 01 máy tính bảng màu đen đề nhãn Samsung.

+ Thu giữ của NLQ2, sinh năm 1970 ở khu dân cư Đại Bát, phường Hoàng Tân, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen trong túi quần phía trước bên trái; 530.000 đồng trong túi quần phía trước bên phải; 01 tờ tiền polime mệnh giá 200.000 đồng từ túi quần phía sau bên phải, 01 xe ô tô BKS 37A- 0762;

+ Thu giữ trên ghế ngồi cách màn hình điều khiển cảm ứng khoảng 40cm: 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa viền màu đỏ bên trong đựng tinh thể màu trắng nghi là ma túy (được niêm phong trong 01 phong bì thư ký hiệu QT2).

+ Thu giữ trên đỉnh bàn gỗ cách vị trí anh NLQ1 ngồi khoảng 50cm: 01 lọ nhựa màu trắng có nắp đậy màu trắng loại 500ml bên trong đựng nước, trên đỉnh nắp nhựa cắm 01 ống nhựa dạng ống hút và 01 cóng thủy tinh.

Ngày 23/3/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà Lâm Xuân H, nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Ngày 23/3/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y ra quyết định trưng cầu giám định tới Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang để giám định chất tinh thể màu trắng được thu giữ khi bắt quả tang.

Tại bản Kết luận giám định số 352/KL-KTHS ngày 24/3/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

“5.1. Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “QT1” đã được niêm phong gửi giám định: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng được hàn kín, được gói trong 01 (một) gói giấy mặt ngoài có chữ “KẸO LẠC VỪNG NGỌC QUÝ” màu đỏ, mặt trong màu trắng. Tất cả được gói trong 01 gói nilon màu trắng là chất ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,031 gam.

5.2. Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “QT2” đã được niêm phong gửi giám định: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ là chất ma túy Methamphetamine, có khối lượng 2,008 gam”.

Cáo trạng số 53/CT- VKSY ngày 04 tháng 9 năm 2019, Viện kiểm sát nhân

dân huyện Y truy tố Lâm Xuân H về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy ” theo Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 50/2019/HS-ST ngày 27/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang; đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Lâm Xuân H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 251, Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Lâm Xuân H 02 (hai) năm 06 ( sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam tức 22/3/2019.

Ngoài ra bản án còn tuyên xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03 /10/2019 bị cáo Lâm Xuân H kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung: Toà sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là không đúng với tội danh, đề nghị Toà phúc thẩm minh oan cho bị cáo.

Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Lâm Xuân H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo với lý bị cáo không có ma tuý bán cho anh NLQ1, bị cáo thừa nhận có cầm ma tuý đá của anh NLQ2 cho vào cóng để sử dụng tại phòng hát số 02VP quán karaoke Anh Đào và có nhận của anh NLQ1 200.000đồng , bị cáo cầm tiền rồi đưa cho anh NLQ2. Sau đó, bị cáo lấy số ma tuý còn lại trong túi ni lon do anh NLQ2 đưa cho sử dụng còn thừa đưa cho anh NLQ1. Sau khi bị bắt quả tang, bị cáo có đề nghị cơ quan điều tra trích suất camera để xem nguồn gốc số ma tuý do đâu mà có nhưng không được cơ quan điều tra chấp nhận. Toà sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là không đúng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh NLQ2 có mặt tại phiên toà phúc thẩm trình bày: Anh có quen biết anh Hoà trong quá trình san lấp mặt bằng công trình. Ngày 22/3/2019 anh và anh NLC2 có đến nhà nghỉ Hàm Rồng của anh NLC3 ở thôn HL, xã YL, huyện Y, tỉnh Bắc Giang chơi. Anh cùng bị cáo Hoà và các đối tượng khác có sử dụng ma tuý đá tại phòng hát số 02VP quán karaoke Anh Đào của anh NLC3 và có được bị cáo Hoà đưa cho anh 200.000đồng để anh đổ dầu xe ô tô, anh không biết số tiền bị cáo Hoà đưa cho anh do đâu mà có. Anh không thừa nhận lời khai của bị cáo Hoà tại phiên toà phúc thẩm khai anh là người đưa ma tuý cho bị cáo Hoà để sử dụng tại phòng hát số 02VP quán karaoke Anh Đào và số ma tuý mà bị cáo Hoà bán cho anh NLQ1.

Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đưa ra đề nghị xem xét các vấn đề kháng cáo mà bị cáo nêu ra đã kết luận và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lâm Xuân H, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Án phí: Bị cáo Lâm Xuân H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lâm Xuân H tranh luận: Số ma tuý mà bị cáo bán cho anh NLQ1 không phải ma tuý của bị cáo, bị cáo đề nghị được trích suất camera để xem xét nguồn gốc số ma tuý do đâu mà có. Đề nghị được đối chất với anh NLQ1 tại phiên toà phúc thẩm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh NLQ2 không tranh luận đối đáp gì.

Đối đáp của đại diện VKS: Bị cáo Hoà phạm tội quả tang nên không cần thiết phải trích suất camera theo yêu cầu của bị cáo. Trong quá trình điều tra bị cáo đã được đối chất với anh NLQ1, tại phiên toà phúc thẩm đã được Hội đồng xét xử công bố lời khai, biên bản đối chất giữa bị cáo với anh NLQ1. Tại phiên toà phúc thẩm mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng anh NLQ1 vắng mặt nên đề nghị của bị cáo được đối chất với anh NLQ1 là không có căn cứ chấp nhận.

Kết thúc tranh luận các bên giữ nguyên quan điểm của mình.

Bị cáo Lâm Xuân H nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xét xử bị cáo đúng người, đúng tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Lâm Xuân H đã được làm trong thời hạn kháng cáo và gửi đến Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. HĐXX chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo Lâm Xuân H thì thấy: Hồi 17 giờ 40 phút ngày 22/3/2019, tại phòng số 02VP quán Karaoke Anh Đào của NLC3, sinh năm 1971 ở thôn HL, xã YL, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y bắt quả tang Lâm Xuân H có hành vi mua bán trái phép 01 (một) gói ma túy Methamphetamine khối lượng 0,031 gam với giá 200.000 đồng cho NLQ1, sinh năm 1970 ở tiểu khu 3, thị trấn N, huyện Y thì bị bắt quả tang.

Như vậy hành vi của bị cáo Lâm Xuân H đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Từ những nội dung trên án sơ thẩm xét xử bị cáo Lâm Xuân H về tội tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Lâm Xuân H thấy: Tại phiên tòa, bị cáo kháng cáo cho rằng Toà sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là không đúng với tội danh nhưng bị cáo không xuất trình được chứng cứ tài liệu chứng minh bị cáo không phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý.

Xét về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

Án sơ thẩm xác định bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, là có căn cứ.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Án sơ thẩm xác định trong quá trình điều tra truy tố xét xử bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Bố mẹ bị cáo có công với cách mạng được tặng huân, huy chương kháng chiến nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, là có căn cứ.

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu.

+ Bản án số: 17/HS-ST ngày 21/5/2002 của Tòa án nhân dân huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 19 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Bản án số: 78/2011/HS-ST ngày 29/9/2011 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 20 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 86 ngày 06/10/2014 của Công an huyện Lục Nam, phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý chất biệt dược gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội. Từ tệ nạn ma túy làm nảy sinh nhiều loại tội phạm khác, gây nhức nhối cho toàn xã hội. Do đó, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự và có hình phạt tù tương xứng đối với bị cáo. Án sơ thẩm xử phạt mức án 2 năm 6 tháng tù là không nặng đối với bị cáo.

Trong quá trình xét xử phúc thẩm, bị cáo không xuất trình thêm được tài liệu chứng cứ mới để xem xét đối với kháng cáo của bị cáo, do vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo Lâm Xuân H không được chấp nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

[1].Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lâm Xuân H, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

Tuyên bố: Bị cáo Lâm Xuân H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 251, Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Lâm Xuân H 02 (hai) năm 06 ( sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam 22/3/2019.

[2]. Án phí: Bị cáo Lâm Xuân H phải chịu 200.000đồng ( hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

[3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ