- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Đ - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH ------------------ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 177/2017/HSST Ngày 31/8/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Đại.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Toán và bà Ngô Thùy Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hòa, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Võ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Kim Phụng, Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 173/2017/HSST ngày 03 tháng 8 năm 2017, đối với bị cáo:
Bùi Văn Đ, sinh năm 1992.
STQ: Thôn X, xã M, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12.
Là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, ngày 15/6/2017 bị Ủy ban kiểm tra Huyện ủy Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang ra quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng.
Con ông Bùi Văn H, sinh năm 1964 và bà Vũ Thị H1, sinh năm 1970; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/5/2017 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 20/5/2017, Đ đang làm xây dựng tại Nhà văn hóa thôn Đồng, xã Chi Lăng, huyện Quế Võ thì có nhu cầu sử dụng ma túy. Đức gọi điện cho H2 ở thôn Đ, xã Chi Lăng để hỏi số điện thoại của người bán ma túy và được H2 cho một số điện thoại. Đ gọi điện vào số điện thoại đó thấy có một người đàn ông nghe máy. Đ hỏi người đàn ông “Anh có đồ không? Bán cho em năm trăm”, người đàn ông nói “Có” và hẹn Đ đến thôn V, xã Bồng Lai để bán ma túy, Đ đồng ý.
Khoảng 22 giờ cùng ngày, Đ đi đến chợ Chì thuộc thôn V, xã Bồng Lai thì xuống xe và gọi điện cho người đàn ông bán ma túy, người đó hẹn Đ lên gần quán Karaoke Hoàng Gia ở thôn V, xã Bồng Lai. Đ đi đến chỗ hẹn và gặp một người đàn ông đi xe Air blade đang đỗ ở đó, Đ đến gần và hỏi “Đồ anh để ở đâu?”, người đó nói “Tiền đâu?”, Đ nói “Đưa đồ xong thì đưa tiền” người đàn ông vừa chỉ tay vừa nói “Đồ để ở khe cửa nhà.”. Đ đi về phía tay người đàn ông chỉ thì thấy 01 vỏ bao thuốc lá bên trong có một ống nhựa mầu vàng hàn kín hai đầu bên trong chứa chất dạng tinh thể mầu trắng. Đ biết đó là ma túy cần mua nên cầm trong lòng bàn tay rồi quay lại trả tiền. Cùng lúc đó thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng và niêm phong theo quy định của pháp luật.
Vật chứng thu giữ gồm: Thu giữ tại lòng bàn tay phải của Đ 01 ống nhựa mầu vàng hàn kín hai đầu bên trong chứa chất dạng tinh thể màu trắng.
Tại bản Kết luận giám định số: 706/KLGĐ-PC54 ngày 21/5/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Chất dạng tinh thể mầu trắng bên trong 01 ống nhựa mầu vàng có trọng lượng 1,9536 gam; là ma túy; loại ma túy: chất Methamphetamine”.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quế Võ, Bùi Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 132/CTr-VKS ngày 31/7/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ đã truy tố Bùi Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Bùi Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội xử phạt: Bùi Văn Đ từ 18 đến 24 tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày 21/5/2017. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ số Methamphetamine còn lại sau giám định.
Bị cáo Bùi Văn Đ nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quế Võ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo Bùi Văn Đ tại cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, lời khai của những người làm chứng và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 22h30’, ngày 20/5/2017, tại khu vực trước cửa quán karaoke Hoàng Gia thuộc thôn V, xã Bồng Lai, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, Bùi Văn Đ có hành vi tàng trữ trái phép 1,9536 gam ma túy, chất Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ vật chứng và niêm phong theo quy định.
Như vậy, thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của Bùi Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội. Tệ nạn ma tuý làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước; việc đấu tranh với các tội phạm về ma tuý hiện nay là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Nhà nước ta đã và đang có nhiều chủ trương chính sách để bài trừ tệ nạn ma túy. Nhưng bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, vì để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân mà bị cáo đi vào con đường phạm tội. Hành vi của bị cáo đã tiếp tay làm gia tăng tệ nạn ma tuý trên địa huyện Quế Võ. Chính vì vậy phải đưa ra xét xử bị cáo kịp thời và có hình phạt nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu; tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, mặt khác bị cáo đã có thời gian phục vụ trong quân đội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội áp dụng theo hướng có lợi cho bị cáo. Do vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam được trừ đi thời gian chấp hành hình phạt tù theo quy định của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính cần phạt bị cáo một khoản tiền sung công quỹ Nhà nước mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, nhưng xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, là lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người thanh niên tên H2 ở thôn Đ, xã Chi Lăng mà theo Đ khai đã cho Đ số điện thoại của người bán ma túy. Cơ quan CSĐT công an huyện Quế Võ xác minh trên địa bàn xã Chi Lăng nhưng không có ai tên H2 như Đ khai nên tách ra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau là phù hợp.
Đối với người thanh niên bán ma túy cho Đ, do Đ không biết tên, tuổi, địa chỉ của người đàn ông này nên cơ quan CSĐT Công an huyện Quế Võ tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau là phù hợp.
Đối với số tiền và chiếc điện thoại để liên lạc khi mua ma túy, Đ khai khi bị bắt đã làm rơi mất, cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu hồi được nên không đặt ra xem xét trong vụ án này.
Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu huỷ số Methamphetamine còn lại sau giám định.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1và khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự; Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội.
Xử phạt: Bùi Văn Đ 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/5/2017. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ số Methamphetamine còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư có đóng dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/8/2017 giữa Công an huyện Quế Võ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Võ).
Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Bùi Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Toà án tỉnh Bắc Ninh; - VKS, CA,THADS huyện Quế Võ; - Sở Tư pháp Bắc Ninh; - UBKT huyện ủy Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang; - Chi bộ thôn Xuân An, xã Mỹ An; - Bị cáo và người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đỗ Văn Đại |