vanban.org

Bản án 177/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.

Tuyên bố bị cáo Lê Nhật H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm, 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2026. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thườ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Nhật H - Sử dụng trái phép chất ma túy - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 256a Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 177/2026/HS-ST
Ngày: 08/9/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Lắm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Văn Bi.

2. Ông Nguyễn Văn Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Tuấn Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nam - Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 154/2026/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 238/2026/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Nhật H, T gọi khác: Cá; Giới tính: nam; Sinh ngày 14 tháng 02 năm 2001; tại tỉnh Đồng Tháp; Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx; Nơi đăng ký thường trú: ấp T, xã L, tỉnh Đồng Tháp; Nơi ở hiện nay: nhà T, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Lê Thanh T1, sinh năm 1971 và bà Võ Thị Hồng E, sinh năm 1981; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: không; Tiền sự: không.

Nhân thân:

- Ngày 18/3/2023, bị Tòa án nhân dân Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 03/3/2024 (đã xóa án tích);

- Ngày 24/02/2025, đăng ký cai nghiện tự nguyện tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Tiền Giang, thời hạn 06 tháng. Hoàn thành cai nghiện ngày 02/10/2025.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 18/6/2026 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Lê Nhật H đang bị quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú theo Quyết định số 21/QĐ-UBND ngày 03/10/2025 của Ủy ban nhân dân xã L, thời gian từ ngày 03/10/2025 đến 03/10/2026 (đã nhận Quyết định ngày 03/10/2025). Ngày 21/05/2026, Công an xã V mời bị cáo đến trụ sở làm việc, xét nghiệm nhanh chất ma túy trong cơ thể thông qua nước tiểu, kết quả H dương tính với chất ma tuý loại Methamphetamine.

Vào khoảng 22 giờ ngày 19/5/2026, bị cáo đi bộ đến khu vực đường lộ số G thuộc địa bàn xã Đ gặp người thanh niên tên Đ (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) mua 200.000 đồng ma tuý loại Methamphetamine và xin 01 bộ dụng cụ sử dụng. Đến khoảng 13 giờ ngày 20/5/2026, bị cáo đến khu vực đất trống cặp bờ kênh thuộc ấp T, xã V, tỉnh Đồng Tháp lấy số ma túy trên để vào bộ dụng cụ sử dụng, hơ nóng sử dụng một mình đến hết, sử dụng xong bị cáo vứt bỏ bộ dụng cụ xuống kênh rồi đến kho chứa đồ của anh Lê Hoàng T2, sinh năm 1990, tọa lạc ấp T, xã V, tỉnh Đồng Tháp ngủ. Đến sáng ngày 21/5/2026, Công an xã V đến mời anh T2 và bị cáo về trụ sở tiến hành xét nghiệm nhanh ma túy, kết quả cả 02 đều dương tính với ma túy Methamphetamine nên bàn giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ thụ lý, giải quyết.

Bản kết luận giám định số 916/KL-KTHS ngày 28 tháng 5 năm 2026 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ: Tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của Lê Nhật H, chứa trong 01 (một) chai nhựa trong suốt có nắp màu trắng đậy kín, được niêm phong trong 01 (một) túi niêm phong mã số NS2 24117601 có các chữ ký ghi họ tên: Ngô Thanh T3, Nguyễn Thân M, Nguyễn Tấn X và Võ Đăng K.

Bản cáo trạng số 67/CT-VKSKV2 ngày 13/8/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố Lê Nhật H đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Đồng Tháp giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Tuyên bố bị cáo Lê Nhật H đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2026.

Về xử lý vật chứng: không có.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng với hành vi của bị cáo; bị cáo thống nhất với các kết luận giám định, bị cáo nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; Bản kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ.

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, là đối tượng đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định số 21/QĐ-UBND ngày 03/10/2025 của Ủy ban nhân dân xã L, thời gian từ ngày 03/10/2025 đến 03/10/2026.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận ngày 20/5/2026 đã sử dụng trái phép chất ma túy, nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, sau đó bị Công an mời làm việc tiến hành xét nghiệm nhanh ma túy và phát hiện bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy.

Theo Bản kết luận giám định số 916/KL-KTHS ngày 28 tháng 5 năm 2026 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ: Tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của bị cáo Lê Nhật H.

Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025;

Điều 256a. Tội sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:

a)…

b) Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện theo quy định của Luật phòng, chống ma túy;

Về tính chất, mức độ: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng dược liệu, dược phẩm độc hại mà cụ thể trong vụ án này là chất ma túy, hành vi này gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy làm ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần, mất khả năng lao động; làm suy thoái giống nòi, suy thoái nhân cách con người, gây ra các bệnh tật, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Bị cáo đã được chính quyền địa phương tuyên truyền pháp luật về ma túy, bị cáo nhận thức rõ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng để thỏa mãn nhu cầu cho bản thân, bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Bị cáo đã từng bị Tòa án xử phạt tù về hành vi “Tàng sử trái phép chất ma túy” mặc dù đã được xóa án tích, nhưng đây xem là bị cáo có nhân thân xấu. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.

Về xử lý vật chứng: không có

Về án phí: bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Qua xem xét quan điểm của Kiểm sát viên về những chứng cứ buộc tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là có căn cứ. Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.

- Tuyên bố bị cáo Lê Nhật H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm, 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2026.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

- Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ