vanban.org

Bản án 177/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 177/2025/HS-ST
Ngày: 12/9/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Vương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Hương Thủy

2. Bà Võ Thị Gái

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Trí – Thư ký Tòa án nhân dân khu

vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12/9/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thành phố

Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 137/2025/HSST ngày 15/8/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 193/2025/QĐXXST-HS ngày 26/8/2025, đối với bị cáo:

Huỳnh Tấn P; sinh năm 1987 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú và

nơi ở: 363A, khu phố 7, phường An Phú, Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường Bình Trưng, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Công T và bà Nguyễn Thị T1; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/12/2024 đến nay.

(Có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

được tóm tắt như sau:

Vào ngày 14 tháng 11 năm 2024, Công an phường Long Trường, thành phố

Thủ Đức tiến hành mời Hồ Thị Kim A (sinh năm 1987) là người đang điều trị nghiện bằng thuốc Methadone tại Trung tâm Y tế dự phòng thuộc phường Long Thạnh Mỹ, thành phố Thủ Đức để làm việc. Tại đây, mặc dù kết quả test nhanh ma túy của Kim A là âm tính nhưng Kim A thừa nhận bản thân còn sử dụng ma túy, lần gần nhất Kim A sử dụng ma túy đá là vào ngày 28 tháng 10 năm 2024 và đã sử dụng hết. Nguồn gốc ma túy Kim A sử dụng là mua của Huỳnh Tấn P (sinh năm 1987), Kim A biết P thông qua sự giới thiệu của Trương Tấn T2, là người cùng điều trị nghiện với Kim A. Huỳnh Tấn P và Hồ Thị Kim A thừa nhận từ ngày 06 tháng 8 năm 2024 đến ngày 14 tháng 10 năm 2024, P đã 15 lần bán trái phép chất ma túy cho Kim A, mỗi lần Kim A muốn mua ma túy, Kim A gọi điện cho P, P đồng ý bán ma túy thì Kim A sẽ chuyển tiền cho P (trong tổng 15 lần thì có 13 lần chuyển từ tài khoản số 19070051260014 tên Hồ Thị Kim A mở tại Ngân hàng Techcombank sang tài khoản số 0938361143 tên Huỳnh Tấn P mở tại Ngân hàng MB Bank và 02 lần chuyển qua ứng dụng ví điện tử Momo từ số 0767181731 tên Hồ Thị Kim A sang số 0938361143 tên Huỳnh Tấn P, cụ thể: ngày 06/8/2024: 700.000 đồng; ngày 14/8/2024: 1.500.000 đồng; ngày 16/8/2024: 1.000.000 đồng và 400.000 đồng; ngày 21/8/2024: 1.000.000 đồng; ngày 23/8/2024: 500.000 đồng; ngày 26/8/2024: 1.000.000 đồng và 600.000 đồng; ngày 06/9/2024: 450.000 đồng; ngày 10/9/2024: 50.000 đồng; ngày 16/9/2024: 1.000.000 đồng; ngày 26/9/2024: 1.500.000 đồng; ngày 02/10/2024: 1.500.000 đồng; ngày 08/10/2024: 1.100.000 đồng; ngày 14/10/2024: 1.100.000 đồng). Sau đó, Kim A đến khu vực gần nhà P tại địa chỉ 363A, Khu phố 7, phường An Phú, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường Bình Trưng, Thành phố Hồ Chí Minh) và gọi điện để P mang ma túy đá ra giao trực tiếp, rồi Kim A mang ma túy về nhà sử dụng.

Nguồn gốc ma túy của Huỳnh Tấn P cất giữ để sử dụng và bán lại cho Kim

A là do P mua của người đàn ông không rõ lai lịch khoảng 40 tuổi, dáng người trung bình, cao khoảng 165 cm, nước da ngăm, tóc cắt ngắn tại khu vực công viên 23/9 thuộc phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1 (nay là phường Bến Thành, Thành phố Hồ Chí Minh). Mỗi lần mua từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng. Sau khi mua ma túy mang về nhà, P lấy ra sử dụng từ từ, khi nào Kim A hỏi mua ma túy P sẽ lấy phần ma túy còn lại và bán cho Kim A. Lần gần nhất P đến khu vực công viên 23/9 là vào ngày 13 tháng 11 năm 2024, P đi một mình và mua ma túy của một người phụ nữ không rõ lai lịch có đặc điểm nhận dạng khoảng 36 tuổi, dáng người trung bình, cao khoảng 160 cm, nước da trắng, tóc dài ngang vai, người phụ nữ đưa ma túy trực tiếp cho P và P đưa tiền mặt 500.000 đồng cho người phụ nữ bán ma túy. Ma túy mua về P sử dụng một mình và đã sử dụng hết. Kết quả xét nghiệm ma túy của Huỳnh Tấn P dương tính với ma túy đá (Methamphetamine) (bút lục 47).

Tại Cơ quan điều tra, Huỳnh Tấn P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như

trên (bút lục 60-63, 68-69, 70-74, 81).

Đối với Trương Tấn T2 (sinh năm 1982) là người giới thiệu Huỳnh Tấn P

để Kim A mua ma túy. T2 khai nhận là bạn của Kim A, cùng là người điều trị nghiện bằng thuốc Methadone với Kim A, thông qua bạn bè xã hội T2 biết việc P có bán ma túy nhưng T2 chưa mua ma túy của P bao giờ, khi nghe Kim A nói muốn sử dụng ma túy nên T2 giới thiệu P cho Kim A gặp và mua ma túy. Việc giao dịch mua bán ma túy giữa Kim A và Huỳnh Tấn P như thế nào, T2 hoàn toàn không biết. T2 không được hưởng lợi ích từ Kim A và Huỳnh Tấn P trong việc giới thiệu cho Kim A mua ma túy của P. Đồng thời, T2 không tham gia bán ma túy cùng với Huỳnh Tấn P. T2 không sử dụng ma túy cùng P và Kim A, kết quả xét nghiệm chất ma túy là âm tính (bút lục 84, 85).

Ngoài ra, Kim A còn khai nhận vào ngày 28/10/2024, Kim A có mua ma

túy của P với số tiền 800.000 đồng bằng hình thức nhận ma túy và trả tiền trực tiếp. Sau đó, Kim A cùng sử dụng ma túy trên với T3 và H (không rõ lai lịch, là bạn cùng điều trị M) tại phòng 105 khách sạn House số 445A, đường Đỗ Xuân Hợp, phường Phước Long B, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường Phước Long, Thành phố Hồ Chí Minh) (bút lục 66-67). Tuy nhiên, P không thừa nhận bán ma túy cho Kim A vào thời điểm nêu trên (bút lục 70- 71). Kết quả xác minh tại Trung tâm y tế dự phòng phường Long Thạnh Mỹ, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh không có người nào tên T3 và H trong danh sách điều trị nghiện bằng Methadone tại đây (bút lục 36). Kết quả xác minh tại phòng 105 khách sạn House số 445A, đường Đỗ Xuân Hợp, phường Phước Long B, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường Phước Long, Thành phố Hồ Chí Minh) không có dữ liệu camera vào ngày 28/10/2024, đồng thời tại lễ tân khách sạn không ghi nhận thông tin khai báo lưu trú của Hồ Thị Kim A từ ngày 01/10/2024 đến 28/10/2024 (bút lục 48-50).

* Vật chứng của vụ án:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J5 Prime, màu hồng, số

sim: 0938361143, điện thoại cũ, đã qua sử dụng của Huỳnh Tấn P.

Bản Cáo trạng số 105/CT-VKSKV2 ngày 13/8/2025 của Viện kiểm sát

nhân dân khu vực 2 – thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng đã nêu. Bị cáo đồng ý

với các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng và không khiếu nại hay có ý kiến gì khác

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 – thành phố Hồ Chí Minh vẫn

giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về hành vi, tội danh, khung hình phạt, điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của

Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025:

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Tấn P từ 09 năm đến 10 năm tù về tội “Mua bán

trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di

động hiệu Samsung Galaxy J5 Prime, màu hồng, số sim: 0938361143, điện thoại cũ, đã qua sử dụng của Huỳnh Tấn P.

Về biện pháp tư pháp và hình phạt bổ sung: buộc bị cáo nộp số tiền thu lợi

bất chính từ việc bán ma túy trái phép; không đề nghị hình phạt bổ sung.

Về án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Bị cáo P không bào chữa, tranh luận và nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn

hối cải về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội làm công dân tốt cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra

viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như cáo

trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận:

Từ ngày 06 tháng 8 năm 2024 đến ngày 14 tháng 10 năm 2024, Huỳnh Tấn

P đã bán tổng cộng 15 lần ma túy đá loại Methamphetamine cho Hồ Thị Kim A để sử dụng. Mỗi lần mua bán, P giao ma túy trực tiếp cho Kim A tại địa chỉ 363A, Khu phố 7, phường An Phú, thành phố Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh (nay là phường Bình Trưng, TP Hồ Chí Minh), Kim A thanh toán tiền mua ma túy cho P bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản số 19070051260014 tên Hồ Thị Kim A mở tại Ngân hàng Techcombank sang tài khoản số 0938361143 tên Huỳnh Tấn P mở tại Ngân hàng MB Bank hoặc chuyển qua ứng dụng ví điện tử Momo từ số 0767181731 tên Hồ Thị Kim A sang số 0938361143 tên Huỳnh Tấn P, cụ thể: ngày 06/8/2024: 700.000 đồng; ngày 14/8/2024: 1.500.000 đồng; ngày 16/8/2024: 1.000.000 đồng và 400.000 đồng; ngày 21/8/2024: 1.000.000 đồng; ngày 23/8/2024: 500.000 đồng; ngày 26/8/2024: 1.000.000 đồng và 600.000 đồng; ngày 06/9/2024: 450.000 đồng; ngày 10/9/2024: 50.000 đồng; ngày 16/9/2024: 1.000.000 đồng; ngày 26/9/2024: 1.500.000 đồng; ngày 02/10/2024: 1.500.000 đồng; ngày 08/10/2024: 1.100.000 đồng; ngày 14/10/2024: 1.100.000 đồng.

Cáo trạng số 105/CT-VKSKV2 ngày 13/8/2025 của Viện Kiểm sát nhân

dân khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với Trương Tấn T2, sau khi được Kim A hỏi có biết chỗ nào bán ma

túy hay không, T2 cho số điện thoại của P để Kim A tự liên hệ, việc giao dịch mua ma túy giữa P và Kim A thế nào, có mua được ma túy hay không, T2 hoàn toàn không biết, T2 không được hưởng lợi ích từ Kim A và P trong việc giới thiệu cho Kim A mua ma túy của P nên không đủ cơ sở để xử lý hình sự đối với T2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Đối với 01 người phụ nữ (không rõ lai lịch) và 01 người đàn ông (không rõ

lai lịch) bán ma túy cho Huỳnh Tấn P, Cơ quan điều tra cần tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với việc Kim A khai có sử dụng chung ma túy với T3 và H (không rõ

lai lịch, là bạn cùng điều trị M) vào ngày 28/10/2024 tại phòng 105 khách sạn House số 445A, đường Đỗ Xuân Hợp, phường Phước Long B, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường Phước Long, Thành phố Hồ Chí Minh), kết quả xác minh tại Trung tâm y tế dự phòng phường Long Thạnh Mỹ, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, không có đối tượng tên T3 và H tại đây; phòng khách sạn không có thông tin lưu trú của Kim A, T3 và H vào ngày 28/10/2024; kết quả test ma túy của Kim A vào ngày 14/11/2024 là âm tính. Do đó, chưa có căn cứ để xử lý Kim A, T3 và H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về tình tiết định khung tăng nặng hình phạt: bị cáo thực hiện hành vi

phạm tội thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối

với bị cáo:

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét trong quá trình điều tra,

truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với bị cáo:

Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo P

đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là rất nghiêm trọng. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, tàng trữ các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, làm tiền đề phát sinh nhiều tội phạm, tệ nạn xấu trong xã hội. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội rất nhiều lần. Do đó, cần phải có mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung trong toàn xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có việc làm, thu nhập nên không

cần thiết phải phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J5 Prime, màu hồng,

số sim: 0938361143, điện thoại cũ, đã qua sử dụng thu của Huỳnh Tấn P, đây là vật bị cáo sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội và có giá trị nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Về biện pháp tư pháp:

Xét các tài liệu, chứng cứ (thông tin chuyển khoản) có căn cứ xác định bị

cáo P thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy số tiền 13.400.000 đồng. Do đó cần truy thu số tiền thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo P là 13.400.000 đồng.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là phù hợp

với quy định pháp luật, hành vi phạm tội của bị cáo nên được chấp nhận toàn bộ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50, Điều

38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025;

Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn P 10 (mười) năm tù về tội “Mua bán trái phép

chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày 07/12/2024.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm

2025;

- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng hiệu

Samsung Galaxy J5 Prime, màu hồng, số sim: 0938361143, điện thoại cũ, đã qua sử dụng.

(Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số 70KVII ngày 04/8/2025 của

Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 Thành phố Hồ Chí Minh).

3. Biện pháp tư pháp: truy thu số tiền thu lợi bất chính từ việc mua bán trái

phép chất ma túy của bị cáo P là 13.400.000 (mười ba triệu bốn trăm ngàn) đồng.

4. Về án phí:

Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/

UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày

tuyên án.

Cỡ chữ